Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn. Chương 2: Các quy định hiện hành của pháp luật môi trường tại khu vực nông thôn - thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội. Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn và liên hệ với thực tế Hà Nội. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN 1.
Khái niệm chung về pháp luật bảo vệ môi trƣờng 1. Khái niệm “Môi trường” Môi trường, là một danh từ hết sức thân thuộc với hầu hết chúng ta. Chúng ta có thể gặp nó ở trên báo chí, sách vở, các bản tin truyền hình, các video, cờ - líp trên các mạng xã hội. Từ môi trường được vận dụng phổ biến và càng ngày càng mang nhiều nghĩa khác nhau, bao gồm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Tuy vậy, để khái quát nghĩa của từ “môi trường” thì có thể được hiểu như sau: “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [75]. Dưới góc nhìn pháp lý, khái niệm “môi trường” đã được định nghĩa tại tất cả các Luật BVMT kể từ năm 1993 đến nay. Dù qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, soạn lại nhưng khái niệm “môi trường” tại các Luật Bảo vệ môi trường vẫn cơ bản mang nghĩa tương tự. Cụ thể: Tại Luật BVMT 1993 đã định nghĩa môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Tức là, khái niệm “môi trường” tại thời điểm này được khái quát là sự tổng hòa các yếu tố gồm cả tính tự nhiên và tính nhân tạo, có tính liên kết và bao quanh tới con người và bên ngoài. Định nghĩa này tương đối chính xác nhưng không được quy định thành một điều khoản riêng lẻ, cụ thể và còn thiếu sót. Khái niệm này tiếp tục được định nghĩa lại nhưng tương đồng về mặt ý nghĩa tại Luật BVMT 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [40]. Khái niệm “môi trường” sau khi được sửa đổi mặc dù vẫn giữ nguyên các yếu tố và tính bao quanh nhưng lại được điều chỉnh về 10 đối tượng bao quanh và tác động là con người và sinh vật.
Định nghĩa này đã được quy định cụ thể, chi tiết tại một điều khoản riêng trong luật, tường minh hơn và thay thế yếu tố chịu tác động là thiên nhiên thành sinh vật Năm 2014, khái niệm về “môi trường” tiếp tục được chỉnh sửa tại Luật BVMT như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [44]. Tới đây, khái niệm môi trường gần như không thay đổi về nghĩa so với định nghĩa tại Luật BVMT 2005 nhưng đã được tóm gọn lại hơn. Và đến tại Luật BVMT 2020 đã định nghĩa lại khái niệm môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên” [49]. Một lần nữa khái niệm “môi trường” được định nghĩa lại.
Về cơ bản, khái niệm được định nghĩa giống như định nghĩa tại Luật BVMT 1993, nhưng có tiếp thu thêm yếu tố chịu tác động của môi trường là sinh vật của Luật BVMT 2005 và 2014. Vì thế, đến nay, ở khía cạnh pháp lý, định nghĩa khái niệm “môi trường” tại Luật BVMT 2020 có thể coi là định nghĩa đúng hơn, đầy đủ hơn, và tiến bộ hơn các định nghĩa trước đó. Có thể nói, qua các thời kỳ, khái niệm “môi trường” mặc dù có những sự thay đổi, sửa đổi, bổ sung và kế thừa nhưng về cơ bản là không thay đổi về nghĩa. Khái niệm “môi trường” dưới góc độ pháp lý được ghi nhận là các vật chất, bao gồm cả vật chất tự nhiên và nhân tạo có liên quan, có tính liên kết chặt chẽ, bao quanh và có tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp đến hầu hết các mặt gồm đời sống, kinh tế, xã hội, sự sống và phát triển của con người, các loài sinh vật và cả giới tự nhiên.
Khái niệm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường 1. Khái niệm “ô nhiễm môi trường” ONMT là một khái niệm quen thuộc và được nhiều ngành khoa học định nghĩa. Chẳng hạn như ở góc độ sinh học ONMT chỉ tình trạng môi trường trong đó các chỉ số hóa, lý học bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Đối với kinh tế học, 11 ONMT là sự tác động xấu đến môi trường về vật lý, sinh học, hóa học dẫn đến sức khỏe con người và các loài động vật phải chịu hệ quả bất lợi.
Trong góc độ pháp lý, Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT 2020 quy định “ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên” [49]. Từ những điểm chung nhất giữa các định nghĩa trong các lĩnh vực nêu trên về ONMT, có thể định nghĩa “ONMT là vấn đề về sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người, sinh vật, tự nhiên” [68]. Khái niệm “suy thoái môi trường” STMT cũng giống như ONMT, đều là khái niệm để hình dung trạng thái của MT, trong đó bao gồm cả sự thay đổi về chất lượng và số lượng thành phần MT. Theo Khoản 13 Điều 3 Luật BVMT quy định: “Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng, số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên” [49].
Từ đó có thể nhận thấy một thành phần MT bị coi là suy thoái khi xuất hiện các dấu hiệu: (i) chất lượng, số lượng của thành phần môi trường bị suy thoái, có thể phát hiện thông qua cảm quan hoặc thông qua các biện pháp đo lường chuyên nghiệp; và (ii) sức khỏe con người, sinh vật và môi trường tự nhiên bị giảm sút, thay đổi theo hướng bất lợi và phải chịu ảnh hưởng lâu dài. Nói cách khác, khi các thành phần môi trường biến đổi dẫn đến tác hại bất lợi, kéo dài đối với sức khỏe con người, sinh vật và môi trường tự nhiên thì môi trường đó bị suy thoái. Khái niệm “sự cố môi trường” SCMT có thể được hiểu là những rủi ro đột xuất xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc sự biến động thất thường của tự nhiên dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng. Một số SCMT thường gặp có thể kể đến như bão, lũ, lở đất, động đất, sóng thần, sự cố lò phản ứng hạt nhân, sự cố phóng xạ, sập hầm lò, tràn dầu… Pháp luật của nhiều nước định nghĩa sự cố môi trường như là một rủi ro môi 12 trường và quy định những biện pháp, nguyên tắc để ngăn chặn rủi ro [68].
Pháp luật BVMT Việt Nam cũng đã định nghĩa SCMT tại Khoản 14 Điều 3 như sau: “Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc do biến đổi bất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng” [49]. Khái niệm “bảo vệ môi trường” Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” có thể hiểu theo hai nghĩa: (i) là hoạt động chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn; (ii) bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến, quan điểm, v. Vì thế, BVMT có thể hiểu là hoạt động chống lại những hành vi dẫn đến sự không nguyên vẹn của môi trường. Liên quan đến BVMT, Pháp luật BVMT cũng định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 như sau: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu” [49].
Từ đó, có thể thấy rằng khái niệm “Bảo vệ môi trường” sẽ được hiểu theo nghĩa thứ nhất của từ điển, tức là những hoạt động, bằng cách này hay cách khác, được thực hiện một cách chủ động để giữ cho MT được nguyên vẹn, không bị ô nhiễm, suy thoái. Tuy nhiên trong pháp luật BVMT, khái niệm BVMT còn được hiểu theo một cách rộng hơn nữa, đó là không chỉ là những hoạt động nhằm giữ cho môi trường nguyên vẹn, mà còn phải có những hoạt động để làm cho môi trường tốt đẹp hơn. Thực tế, có nhiều hoạt động thực hiện BVMT dựa trên những tập quán, hương ước hay luật tục về BVMT tùy vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đại phương đó. Một ví dụ thường thấy nhất là tại nhiều địa phương, hương ước quy định người dân nào nếu ném rác thải không đúng nơi quy định sẽ bị phạt tiền.
Hay ở những vùng tập trung đồng bào dân tộc thiểu số thường có luật tục như: luật tục của người Ê-đê quy định rằng: Làm rẫy không được phá rừng già. Làm nhà không được chặt cây to. Chặt một cây phải trồng bảy cây. Chặt cây to phải chừa cây con.
Làm như thể rừng không bị mất. Làm như thế rừng xanh tươi mãi mãi… [63], 13 luật tục của người M’nông cũng nêu: "Bắt con ếch phải chừa con mẹ. Bắt con cá phải chừa con mẹ. Chặt cây tre phải chừa cây con.
Đốt tổ ong phải chừa ong chúa"; "… làm ô nhiễm nguồn nước ăn thì chủ nhà phải tát nước cho hết phèn. Đồng thời phải cúng xoá cho thần linh một lợn, một bầu gạo, một dê, một bầu cháo và một trâu hay một bò cho buôn làng…" [63]. Có thể thấy, người dân các địa phương khi có nhận thức về vai trò của môi trường đối với đời sống của mình cũng sẽ chủ động tự phát có các hoạt động, hành vi về bảo vệ môi trường.