Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật học mang tên “Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam” tiếp cận vấn đề an toàn tài chính dưới góc độ pháp lý thực định và lý luận luật học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản của các ngân hàng thương mại (NHTM), đóng vai trò cung ứng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế nhưng tiềm ẩn rủi ro cao và dễ tạo hiệu ứng dây chuyền. Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực này với hai đạo luật trụ cột là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã tạo lập khung khổ pháp lý ban đầu. Tuy nhiên, các quy định thực định bộc lộ nhiều điểm chưa toàn diện, thiếu tính thống nhất và chưa theo kịp chuẩn mực giám sát mới. Trên thực tế, công tác thanh tra giám sát ngân hàng còn nhiều bất cập; hoạt động xét xử tại tòa án chưa bảo vệ thỏa đáng quyền lợi của tổ chức tín dụng; tình trạng sở hữu chéo và lũng đoạn ngân hàng diễn biến phức tạp. Trong khi đó, hệ thống lý luận pháp lý về bảo đảm an toàn cấp tín dụng tại Việt Nam còn thiếu tính đồng bộ và thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu tích hợp cả hai chiều kích phòng ngừa và xử lý rủi ro.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng (HĐCTD) của các NHTM; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật cùng cơ chế thực thi tại Việt Nam.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá có hệ thống những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM; tiếp thu các kết quả học thuật đã có và phát triển hệ thống lý luận của đề tài.
- Làm sáng tỏ sự tất yếu phải bảo đảm an toàn trong HĐCTD thông qua phân tích bản chất HĐCTD và các loại rủi ro phát sinh; xác định khái niệm, tiêu chí đánh giá, nội dung và yêu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với an toàn cấp tín dụng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm an toàn cấp tín dụng của NHTM Việt Nam nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong hệ thống văn bản và thi hành án, xét xử, thanh tra.
- Xác định định hướng hoàn thiện pháp luật, đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể sửa đổi hệ thống luật thực định (trọng tâm là Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) và bảo đảm cơ chế thực thi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý thuyết về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM; các quy phạm pháp luật điều chỉnh bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tập trung vào pháp luật Việt Nam, có liên hệ đối chiếu với khuyến nghị, chuẩn mực của Ủy ban Basel và kinh nghiệm một số quốc gia.
- Về thời gian: Khảo sát các quy định pháp luật đang có hiệu lực trên nền tảng Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản liên quan.
- Về lĩnh vực: Giới hạn trong HĐCTD của các NHTM, không nghiên cứu các mảng hoạt động khác (như huy động vốn, dịch vụ thanh toán, thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường chứng khoán). Nội dung phân tích tập trung vào hai nhánh: pháp luật về phòng ngừa rủi ro và pháp luật về xử lý rủi ro.
- Về chủ thể: Chỉ nghiên cứu NHTM Việt Nam, không bao gồm các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác xã.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu theo 4 nhóm chuyên đề:
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung tiếp cận chính |
| 1. Khái niệm và bản chất an toàn trong hoạt động cấp tín dụng |
Vũ Đình Ánh (2001); Lê Thị Thuỳ Vân (2014); Nguyễn Văn Hưng (2003); Phạm Thanh Chung (2005); Tạ Chương Lâm (2009); Lê Văn Luyện (2003); Kim Thị Huyền (2008). |
Tiếp cận thuật ngữ an toàn qua tính ổn định, vững mạnh; an toàn cho vay là thu hồi đủ gốc và lãi; bảo đảm an toàn gắn với quản trị rủi ro, tự do kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế. |
| 2. Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng |
Nguyễn Ngọc Lương (2017); Jeroen Klomp & Jacob De Haan (2011); Abdelkader Boudriga, Neila Boulila Taktak & Sana Jellouli (2009); Tung-Hao Lee & Shu-Hwa Chih (2013); George Hanc (2004); Nguyễn Văn Tuyến (2003); Roland Benediker; Ngô Quốc Kỳ (2003). |
Xem xét vai trò của quy định pháp luật và giám sát ngân hàng đối với rủi ro; phân tích ngưỡng can thiệp vĩ mô của Nhà nước; nghiên cứu mô hình ngân hàng xã hội; đánh giá tác động của tỷ lệ an toàn vốn, dự phòng đến việc giảm nợ xấu. |
| 3. Biện pháp bảo đảm an toàn tiếp cận từ góc độ phòng ngừa rủi ro |
Lê Thị Thu Thủy (chủ biên, 2016; 2006); Lê Thị Ngân Hà (2011); Đinh Thị Thuỳ Nga (2010); Lê Thị Huyền Diệu (2010); Trương Thị Anh Tú (2010); Trần Vũ Hải (2007); Nguyễn Hữu Đương (2005); Ross Levine; Báo cáo OECD (2006); Phạm Văn Tuyết & Lê Kim Giang (2012); Nguyễn Thị Thuỷ (2000); Phạm Thị Giang Thu & Nguyễn Ngọc Lương (2011). |
Phân tích các công cụ phòng ngừa: thẩm định tín dụng, tài sản bảo đảm, thông tin tín dụng, xếp hạng nội bộ, kiểm soát nội bộ, thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), phân loại nợ, trích lập dự phòng và giới hạn cấp tín dụng. |
| 4. Biện pháp bảo đảm an toàn tiếp cận từ góc độ xử lý rủi ro |
John P. Bonin & Yiping Huang (2001); Phạm Kim Thoa (2007); Huỳnh Thế Du (2005); Nhiều tác giả (2012); Jun Ma (1996); Trần Công Hoà & Đỗ Thị Trà Linh; Nguyễn Đại Lai. |
Nghiên cứu cơ chế giải quyết nợ xấu; vai trò của công ty quản lý tài sản (AMCs); tranh luận học thuật về việc áp dụng biện pháp hoán nợ thành vốn góp cổ phần; kinh nghiệm xử lý nợ của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Séc, Ba Lan, Đài Loan. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Phân định ranh giới giữa khái niệm "an ninh" (security) và "an toàn" (safety): An ninh thể hiện mức độ bảo vệ và chống lại tác nhân nguy hại trên diện rộng; trong khi an toàn là trạng thái duy trì hoạt động trong giới hạn mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Luận án khắc phục sự đồng nhất khái niệm bảo đảm an toàn với việc triệt tiêu toàn bộ rủi ro.
- Xây dựng khung tiếp cận chỉnh thể: Hầu hết các công trình trước đây chỉ phân tích riêng lẻ hoạt động cho vay, một nhóm biện pháp kỹ thuật hoặc nghiên cứu HĐNH nói chung trong bối cảnh các đạo luật năm 1997. Luận án thiết lập mô hình nghiên cứu tích hợp hai trụ cột là cơ cấu phòng ngừa rủi ro và cơ cấu xử lý rủi ro, áp dụng riêng cho các NHTM theo khung khổ pháp lý mới (Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật Dân sự năm 2015).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết:
- Lý thuyết về sự can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường: Luận giải căn cứ và giới hạn can thiệp bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM ở tầm vĩ mô, thiết lập hành lang an toàn mà không xâm phạm quyền tự do kinh doanh.
- Lý thuyết về hiệu quả của pháp luật: Phân tích mức độ tác động và tính khả thi của các quy phạm điều chỉnh quan hệ tín dụng ngân hàng.
- Cách tiếp cận kinh tế học pháp luật (law and economics): Đánh giá chi phí tuân thủ, chi phí rủi ro và cơ chế khuyến khích hành vi của các chủ thể trong quan hệ cấp tín dụng.
- Chuẩn mực quốc tế của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: Vận dụng khung phân loại rủi ro, nguyên tắc giám sát an toàn và các hiệp ước vốn (Basel I năm 1988, Basel II năm 2001/2006, Basel III năm 2010/2019).
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của khoa học luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Rà soát các điều khoản của luật thực định và văn bản dưới luật về cấp tín dụng, phân loại nợ, bảo đảm tiền vay.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định pháp luật của Việt Nam với chuẩn mực Basel và kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia (Anh, Hoa Kỳ, Úc, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc).
- Phương pháp lịch sử: Khảo sát tiến trình biến chuyển của quy định an toàn ngân hàng qua các giai đoạn lập pháp (Luật năm 1997 sang Luật năm 2010).
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp và phân tích thực tiễn: Đánh giá số liệu án lệ, thực tiễn xét xử tranh chấp tín dụng, thực tế xử lý nợ xấu và các vụ việc vi phạm thẩm định hồ sơ, nâng khống tài sản bảo đảm.
Nguồn dữ liệu:
- Văn bản quy phạm pháp luật: Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Bộ luật Dân sự năm 2015, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của NHNN.
- Báo cáo và tài liệu quốc tế: Tài liệu của Ủy ban Basel, báo cáo quản trị ngân hàng của OECD (2006), dữ liệu chỉ tiêu lành mạnh tài chính (FSIs) về tỷ lệ an toàn vốn (CAR).
- Thực tiễn tư pháp và tài liệu vụ việc: Dữ liệu xét xử tại tòa án, thông tin công bố về các thương vụ hoán đổi nợ thành vốn góp (như tại VietinBank, ACB, SHB giai đoạn 2011–2012).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này khảo sát toàn diện hệ thống công trình học thuật trong nước và quốc tế liên quan đến an toàn cấp tín dụng, phân loại thành 4 nhóm vấn đề chính. Tác giả phân tích điểm kế thừa từ các nghiên cứu đi trước của Lê Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Ngọc Lương, Jeroen Klomp và Jacob De Haan; đồng thời chỉ ra khoảng trống về mặt lý luận và lập pháp tại Việt Nam. Kết quả của chương là xác lập nền tảng để luận án xây dựng mô hình tiếp cận kép: phòng ngừa rủi ro và xử lý rủi ro trong HĐCTD của NHTM.
Chương 2. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại
Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của HĐCTD và các loại rủi ro:
- Sự tất yếu của bảo đảm an toàn: Tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 70% tổng tài sản có của các NHTM (theo Lê Văn Tề, 2008). Về bản chất, tín dụng là sự vận động đơn phương của giá trị từ người cho vay sang người đi vay; sự không hoàn trả hoặc chậm hoàn trả của vốn và lãi cấu thành rủi ro tín dụng.
- Hệ thống rủi ro theo Ủy ban Basel: Gồm rủi ro tín dụng (credit risk), rủi ro thị trường (market risk - gồm rủi ro lãi suất và hối đoái), rủi ro vận hành hay rủi ro hoạt động (operational risk), rủi ro thanh khoản (liquidity risk), rủi ro chiến lược và rủi ro danh tiếng.
- Rủi ro trong các nghiệp vụ cấp tín dụng cụ thể:
- Cho vay: Thẩm định sai lệch/lừa đảo tài sản bảo đảm; sử dụng vốn sai mục đích; dự án thất bại do môi trường kinh doanh; vi phạm thời hạn trả nợ; hợp đồng thế chấp vô hiệu; không xử lý được tài sản bảo đảm; không chuyển giao được nợ xấu cho bên mua nợ.
- Bảo lãnh ngân hàng: Khách hàng không hoàn trả sau khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thay; phát sinh tranh chấp ba bên; xuất hiện chứng thư bảo lãnh giả mạo hoặc ký vượt thẩm quyền.
- Chiết khấu giấy tờ có giá: Không thực hiện được quyền truy đòi người thụ hưởng; bên có nghĩa vụ từ chối thanh toán; chiết khấu giấy tờ có giá giả.
- Bao thanh toán: Ngân hàng ứng vốn cho bên bán nhưng bên mua không trả tiền và bên bán mất khả năng thanh toán khi bị truy đòi; bên mua không hoàn trả vốn ứng trước.
- Phát hành thẻ tín dụng: Chủ thẻ không thanh toán số dư; thẻ tín dụng bị giả mạo, đánh cắp; rủi ro lỗi bảo mật kỹ thuật hoặc gian lận từ nhân viên.
- Khái niệm và yêu cầu lập pháp: Bảo đảm an toàn trong HĐCTD là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhằm duy trì sự ổn định, bảo vệ hoạt động tín dụng trước các tác nhân gây hại, khống chế tổn thất ở mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Pháp luật bảo đảm an toàn cấp tín dụng phải đáp ứng 4 yêu cầu: nâng cao năng lực cạnh tranh và tính bền vững; kết hợp phòng ngừa với xử lý rủi ro; tôn trọng quyền tự do kinh doanh; bảo đảm sự can thiệp điều tiết hợp lý của Nhà nước ở tầm vĩ mô.
Chương 3. Thực trạng pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3 phân tích quy định thực định và dữ liệu thực thi:
- Thực trạng pháp luật phòng ngừa rủi ro: Khảo sát các quy định về đối tượng không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng; quy trình thẩm định hồ sơ và kiểm tra việc sử dụng vốn vay; đăng ký và xử lý biện pháp bảo đảm; hệ thống thông tin tín dụng; giám sát của NHNN; phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) và hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Ưu điểm: Đã thiết lập hành lang an toàn bước đầu, từng bước tiếp cận chuẩn mực quản trị quốc tế.
- Bất cập thực tế: Nhiều sai phạm nghiêm trọng diễn ra tại các NHTM. Cán bộ quản lý và nhân viên ngân hàng thông đồng nâng khống giá trị tài sản bảo đảm, bỏ qua khâu thẩm định hồ sơ, buông lỏng nghĩa vụ kiểm tra sau giải ngân, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng; tình trạng sở hữu chéo, lũng đoạn tín dụng đẩy quy mô nợ xấu toàn hệ thống lên hàng trăm nghìn tỷ đồng.
- Thực trạng pháp luật xử lý rủi ro: Phân tích cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chấm dứt cấp tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm, mua bán nợ qua các công ty quản lý tài sản (AMCs) và trích lập dự phòng.
- Tồn tại: Thủ tục xử lý tài sản thế chấp còn phức tạp, kéo dài; hoạt động của các công ty AMCs chưa phát huy tối đa hiệu quả do khung pháp lý về chuyển giao khoản nợ và bảo lưu quyền đòi nợ còn vướng mắc; công tác xét xử tại tòa án còn chậm trễ, chưa bảo vệ kịp thời quyền tài sản của ngân hàng.
- Đánh giá chung: Hệ thống pháp luật về an toàn cấp tín dụng còn thiếu tính đồng bộ, chưa có chế tài đủ sức răn đe; tính nghiêm minh trong tổ chức thực thi pháp luật còn hạn chế.
Chương 4. Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 4 đưa ra hệ thống quan điểm và giải pháp:
- 4 định hướng hoàn thiện:
- Phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ thống ngân hàng.
- Khắc phục triệt để những hạn chế, xung đột quy định trong hệ thống pháp luật thực định.
- Tiếp thu kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế, trọng tâm là các khuyến nghị giám sát của Ủy ban Basel.
- Dựa trên nền tảng lý thuyết can thiệp vĩ mô và kinh tế học pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên trong quan hệ tín dụng, kiểm soát việc lũng đoạn ngân hàng và tôn trọng quyền tự do kinh doanh.
- 3 nhóm giải pháp lập pháp cơ bản:
- Luật hóa rõ ràng và toàn diện nghĩa vụ của NHTM trong việc thiết lập hệ thống bảo đảm an toàn nội bộ.
- Xây dựng cơ chế giám sát chặt chẽ trạng thái an toàn cấp tín dụng từ phía cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng.
- Thiết kế các chế tài nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm quy chuẩn an toàn tín dụng (nâng khống định giá tài sản, bỏ qua thẩm định, lạm quyền cấp tín dụng cho các bên liên quan).
- Kiến nghị cụ thể: Đề xuất sửa đổi, bổ sung trực tiếp các điều khoản trong Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; hoàn thiện cơ chế xử lý nợ xấu, nâng cao thẩm quyền thu hồi và xử lý tài sản bảo đảm của NHTM; tối ưu hóa cơ chế hoạt động của các công ty mua bán nợ và quản lý tài sản.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Đề xuất mô hình tiếp cận cơ sở lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn cấp tín dụng dựa trên cấu trúc phân tầng: trình tự phòng ngừa rủi ro kết hợp cùng cơ chế xử lý rủi ro. Cách tiếp cận này tạo sự phân biệt với các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ xem xét đơn lẻ hoạt động cho vay hoặc chỉ nhìn nhận an toàn dưới góc độ quản trị kỹ thuật.
- Làm rõ bản chất học thuật giữa "an toàn" và "an ninh", xác định mục tiêu của pháp luật bảo đảm an toàn là duy trì HĐCTD trong giới hạn rủi ro chấp nhận được, cân bằng giữa mục tiêu sinh lời và an toàn hệ thống.
Về mặt thực tiễn:
- Làm rõ bức tranh thực trạng pháp luật thực định: Quy định hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa bao quát hết các sản phẩm tín dụng phi truyền thống (như bao thanh toán, thẻ tín dụng).
- Tổng kết và chỉ rõ các dạng sai phạm thực tế: Việc vi phạm thẩm định hồ sơ, nâng khống giá trị tài sản bảo đảm và buông lỏng kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay đã gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng cho các tổ chức tín dụng, tạo gánh nặng nợ xấu hàng trăm nghìn tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.
- Nhận diện những rào cản pháp lý trong hoạt động xét xử tranh chấp tín dụng và hạn chế vận hành của các công ty xử lý nợ (AMCs).
Về mặt giải pháp và kiến nghị:
- Hoạch định định hướng hoàn thiện dựa trên kinh tế học pháp luật và các chuẩn mực của Ủy ban Basel.
- Đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ và hệ thống kiến nghị sửa đổi thực chất Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 cùng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tập trung nâng cao chế tài xử phạt và hoàn thiện thủ tục thu hồi tài sản bảo đảm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát đối với khía cạnh pháp lý của hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại; không mở rộng nghiên cứu sang các mảng kinh doanh ngân hàng khác (như huy động vốn, kinh doanh chứng khoán, phái sinh, thanh toán).
- Luận án không bao quát khung pháp lý an toàn tín dụng áp dụng cho các định chế tài chính khác ngoài NHTM (như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam).
- Về thời gian, luận án tập trung đánh giá hệ thống văn bản pháp luật xoay quanh Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 tại thời điểm nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các chế định an toàn áp dụng cho toàn bộ các khối tổ chức tín dụng đặc thù và tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Việt Nam.
- Nghiên cứu cập nhật các tác động pháp lý khi Luật Các tổ chức tín dụng và các luật chuyên ngành liên quan tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy định về giao dịch bảo đảm, xử lý nợ xấu.
- Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng: Tham khảo các tiêu chuẩn thanh tra an toàn vốn theo khuyến nghị của Basel để hoàn thiện quy trình kiểm tra, giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ.
- Cơ quan tư pháp (Tòa án, Thi hành án): Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để tháo gỡ vướng mắc khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm.
- Các ngân hàng thương mại: Hữu ích cho ban điều hành, bộ phận quản trị rủi ro và cán bộ pháp chế trong việc hoàn thiện quy chế tín dụng nội bộ, chuẩn hóa quy trình thẩm định và giám sát sau giải ngân.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Tài liệu nghiên cứu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng. Phần phân loại chi tiết rủi ro theo từng hình thức cấp tín dụng ở Chương 2 là nội dung có giá trị tham khảo học thuật cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án phân định sự khác biệt giữa hai thuật ngữ "an ninh" (security) và "an toàn" (safety) trong hoạt động ngân hàng như thế nào?
Theo luận án, dù hai thuật ngữ đều mô tả trạng thái không bị nguy hại từ các yếu tố bên trong và bên ngoài, nhưng "an ninh" thể hiện các mức độ phòng vệ, chống lại tác nhân nguy hại trên diện rộng của đời sống kinh tế xã hội. Ngược lại, "an toàn" được tiếp cận dưới góc độ duy trì hoạt động trong giới hạn mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, không đồng nghĩa với việc triệt tiêu toàn bộ rủi ro kinh doanh.
2. Vì sao rủi ro tín dụng được xác định là loại rủi ro chiếm tỷ trọng chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng thương mại?
Dẫn theo tài liệu của Lê Văn Tề (2008), luận án chỉ ra hoạt động cấp tín dụng thường chiếm khoảng 70% tổng tài sản có của các NHTM. Bản chất của tín dụng là sự chuyển dịch giá trị đơn phương có thời hạn, do đó việc khách hàng chậm trả hoặc mất khả năng hoàn trả gốc và lãi trực tiếp đe dọa sự an toàn tài chính của tổ chức tín dụng.
3. Luận án ghi nhận các quan điểm trái chiều nào về biện pháp "hoán nợ thành vốn góp" (chuyển nợ vay thành vốn cổ phần)?
Luận án chỉ ra hai luồng quan điểm:
- Ủng hộ (Jun Ma, 1996): Hoán nợ thành vốn giúp ngân hàng chuyển quan hệ tín dụng thành quan hệ góp vốn, có quyền tham gia quản trị doanh nghiệp vay vốn và tìm kiếm lợi nhuận từ kết quả kinh doanh.
- Phản đối (Trần Công Hòa & Đỗ Thị Trà Linh): Biện pháp này chỉ chuyển đổi trạng thái từ nợ tín dụng sang đầu tư tài chính mà không làm giảm mức độ rủi ro; đồng thời ngân hàng có thể gặp rủi ro lớn hơn do không am hiểu sâu lĩnh vực sản xuất kinh doanh phi ngân hàng của doanh nghiệp.
4. Những hành vi vi phạm quy chuẩn an toàn tín dụng cụ thể nào được luận án chỉ ra trong thực tế thi hành pháp luật tại Việt Nam?
Luận án ghi nhận các hành vi vi phạm phổ biến gồm: lãnh đạo và cán bộ ngân hàng thông đồng nâng khống giá trị tài sản thế chấp; bỏ qua khâu thẩm định tính khả thi của hồ sơ dự án; buông lỏng nghĩa vụ kiểm tra, giám sát mục đích sử dụng vốn vay sau giải ngân; và hành vi sở hữu chéo, lũng đoạn ngân hàng nhằm cấp tín dụng sai quy định, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng.
5. Theo Ủy ban Basel được trích dẫn trong luận án, hệ thống rủi ro ngân hàng bao gồm những loại nào?
Theo Ủy ban Basel, hệ thống rủi ro ngân hàng gồm: rủi ro tín dụng (credit risk), rủi ro thị trường (market risk), rủi ro vận hành hay hoạt động (operational risk), rủi ro thanh khoản (liquidity risk), cùng nhóm rủi ro còn lại gồm rủi ro chiến lược và rủi ro danh tiếng (rủi ro uy tín).
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam” đã giải quyết thấu đáo vấn đề an toàn ngân hàng dưới góc độ khoa học luật học bằng cách tiếp cận tích hợp hai nhánh phòng ngừa và xử lý rủi ro. Công trình làm rõ cơ sở lý thuyết, phân loại toàn diện các rủi ro trong từng nghiệp vụ cấp tín dụng và phản ánh trung thực những bất cập, sai phạm nghiêm trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam. Trên cơ sở các chuẩn mực của Ủy ban Basel và lý thuyết kinh tế học pháp luật, luận án đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp và các kiến nghị sửa đổi lập pháp cụ thể nhằm nâng cao tính an toàn và bền vững cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.