CHƯƠNG 1: Lý luận chung về di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 1. Khái quát chung về di chuyển lao động 1. Khái niệm, đặc điểm của di chuyển lao động 1. Khái niệm “di chuyển lao động” Các quốc gia trên thế giới có sự đa dạng về kinh tế, văn hóa, xã hội, có sự phân bố không đồng đều về tài nguyên và các nguồn lực phát triển, dẫn đến sự phát triển mất cân đối giữa các quốc gia.
Ngày nay, do xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ tạo nên dòng dịch chuyển hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác, mở ra các biện pháp khác nhau cho việc giải quyết tình trạng không đồng đều này. Trong đó, di chuyển lao động từ nước ngoài vào quốc gia khác là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng để đồng bộ các yếu tố sản xuất. Hoạt động di chuyển từ nước này sang nước khác để làm việc đang ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một trong những mối quan tâm sâu sắc của các quốc gia trong chiến lược phát triển toàn diện đất nước. Để có cách hiểu chính xác và đầy đủ, tác giả sẽ tập trung làm rõ các khái niệm có liên quan, đặc biệt là khái niệm “di chuyển lao động” sẽ được sử dụng trong khóa luận này.
Khái niệm “Di chuyển” Xét trên góc độ vật lý học, di chuyển là sự chuyển dời vị trí trong không gian của các vật thể hay là sự chuyển động của bộ phận này so với bộ phận khác của cùng một vật. Phân tích chi tiết, sự chuyển dời vị trí của vật thể phát sinh trong quá trình vận động bao gồm ba yếu tố cơ bản là điểm xuất phát, hướng vận động và đích đến. Trong đó, điểm xuất phát luôn nằm trong thể đối ứng với điểm đích mà chủ thể đang di chuyển hướng tới. Hướng vận động không tồn tại tách rời mà liên quan mật thiết, gắn chặt với điểm xuất phát và điểm đích, trở thành phạm trù trung gian không thể thiếu.
Từ khi loài người chúng ta phân biệt được trạng thái tĩnh và trạng thái động, nhận thức được trạng thái vận động và đứng im của sự vật hiện tượng, thì tất yếu chúng ta cũng nhận thức được ý niệm về tầm quan trọng của hoạt động di chuyển đối với hoạt động thực tiễn của con người. Bởi lẽ di chuyển là một phương thức tồn tại 7 của vật chất, thông qua quá trình đó, vật chất bộc lộ bản chất từ đơn giản đến phức tạp. Tóm lại, di chuyển là sự chuyển đổi về mặt không gian hoặc bất kỳ một sự thay đổi trạng thái nào, hiểu một cách đơn giản nhất là dời đi nơi khác. Khái niệm “Lao động” Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của một quốc gia. Trong văn kiện thành lập ILO, một nguyên tắc nêu rõ rằng con người không nên bị đối xử như các thứ hàng hóa vô cảm, như vốn tư bản, hay đơn thuần như phương tiện sản xuất, nguồn lực nào đó. Thay vào đó, những người làm việc vì sinh kế cần được đối xử như con người có phẩm giá và đáng trân trọng4. Hầu hết mọi người đều nhận được lợi ích thực sự từ việc lao động.
Lao động là hoạt động sáng tạo cần thiết đối với nhân loại, là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để con người sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội, trong đó sức lao động đóng vai trò quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Có thể hiểu mối tương quan giữa hai phạm trù “sức lao động” và “lao động” như sau: sức lao động là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Trong mỗi xã hội, nơi nào có nhu cầu về lao động và có nguồn cung lao động, thì ở đó sẽ hình thành thị trường lao động. Như vậy, lao động là yếu tố cơ bản quyết định trong quá trình sản xuất nói riêng và cho mọi hoạt động kinh tế nói chung, đóng góp vào sự giàu có của xã hội.
Khái niệm “Di chuyển lao động” Nhân loại luôn không ngừng đặt ra những câu hỏi về con đường mà tổ tiên chúng ta di cư và tản mát khắp hành tinh này khi xưa. Với những bằng chứng hóa thạch và dữ liệu di truyền ty thể thu thập được cho đến nay, hầu hết các nhà nhân chủng học và di truyền học đều đồng ý rằng người hiện đại đã hiện diện và phát triển khoảng 200.000 năm trước tại châu Phi. Darwin lần đầu tiên đề nghị giả thuyết “Out 4 Thuật ngữ Lao động và Xã hội, [https://sites.com/site/thuatngulaodongxahoi/lao-dong] (truy cập lần cuối lúc 10h28 ngày 15/4/2019). 8 of Africa” sau khi nghiên cứu hành vi của vượn châu Phi.
Dữ liệu gen đã chứng minh giả thuyết trên, cho thấy một nhóm nhỏ người hiện đại (Homo sapiens) đã rời châu Phi khoảng 125.000 năm trước, phát tán ra khắp thế giới và đã thay thế các chủng người khác của Homo như người Neanderthal và Homo erectus 5. Từ thời xa xưa, con người có xu hướng di chuyển để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi cũ. Họ rẽ theo những hướng khác nhau và đặt dấu chân của loài người trên khắp trái đất. Trong lịch sử, nhân loại đã trải qua các cuộc di dân lớn và phức tạp với các nguyên nhân khác nhau như: chiến tranh, thiên tai, thay đổi chế độ, dịch bệnh, ô nhiễm.
Trong đó, việc di cư vì lý do kinh tế để tìm kiếm việc làm cũng được biết đến là một trong những nhân tố có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây, việc đưa lao động của một quốc gia ra khỏi phạm vi của nước đó để làm việc trên một quốc gia khác đã trở nên quen thuộc. Số lượng người lao động ra nước ngoài ngày càng tăng phản ánh nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có những chuyển biến về chất và sự phát triển không đồng đều giữa các nước. Theo kinh tế học lao động, di chuyển lao động (Labour Mobility) được hiểu là hoạt động mà người lao động có thể di chuyển trong một nền kinh tế và giữa các nền kinh tế khác nhau.
Từ điển Cambridge định nghĩa: Di chuyển lao động là mức độ mà mọi người có thể và sẵn sàng chuyển từ công việc này sang công việc khác hoặc từ khu vực này sang khu vực khác để làm việc6. Như vậy, có hai loại di chuyển lao động chính: di chuyển địa lý và di chuyển nghề nghiệp. Di chuyển địa lý là khả năng làm việc của người lao động tại một địa điểm cụ thể. Ví dụ, người lao động chuyển từ Việt Nam sang Nhật Bản để tìm việc làm.
Di chuyển nghề nghiệp đề cập đến khả năng của người lao động có thể thay đổi loại công việc. Ví dụ, một thợ sửa chữa ô tô thay đổi công việc thành người bán hàng phản ánh khái niệm di chuyển nghề nghiệp. Trong khóa luận này, tác giả muốn đề cập đến khái niệm di chuyển lao động về địa 5 Nguồn gốc châu Phi gần đây của người hiện đại, Wikipedia, [https://vi.org/wiki/Ngu%E1%BB% 93n_g%E1%BB%91c_ch%C3%A2u_Phi_g%E1%BA%A7n_%C4%91%C3%A2y_c%E1%BB%A7a_ng%C 6%B0%E1%BB%9Di_hi%E1%BB%87n_%C4%91%E1%BA%A1i] (truy cập lần cuối lúc 15h35 ngày 15/4/2019). 6 labour mobility is the degree to which people are able and willing to move from one job to another or from one area to another in order to work.org/vi/dictionary/english/labour-mobility] (truy cập lần cuối lúc 09h20 ngày 14/4/2019).
Tuy nhiên, di chuyển địa lý cũng được chia ra thành hai loại: (i) người lao động di chuyển từ nơi này sang nơi khác trong một quốc gia và (ii) di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác, hay còn gọi là di chuyển lao động quốc tế. Di chuyển lao động quốc tế là hiện tượng người lao động di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia kia có kèm theo sự thay đổi về chỗ ở và nơi cư trú7. Di chuyển lao động quốc tế về cơ bản là sự phản ứng trước những thay đổi về phân bố nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, trật tự thế giới, sự biến đổi của môi trường, sự phát triển của kinh tế và công nghệ. Con người di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhằm tận dụng lợi thế về điều kiện khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên để có được nguồn thu nhập cao hơn hoặc để thoát khỏi sự phân biệt đối xử8.
Thông qua các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu di chuyển lao động quốc tế là thuật ngữ chỉ việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Di chuyển lao động quốc tế thường có hai hình thức thể hiện là di chuyển tự do và di chuyển có tổ chức. Điểm mới trong di chuyển lao động quốc tế hiện nay là hình thức di chuyển có tổ chức, người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn, có sự quản lý của Chính phủ. Khóa luận này sẽ sử dụng thuật ngữ “di chuyển lao động” với nghĩa tương đương với di chuyển lao động quốc tế, tức là sự di chuyển của lao động có đi qua biên giới quốc gia, liên quan đến ít nhất hai quốc gia là quốc gia gốc và quốc gia tiếp nhận.
Đặc điểm của di chuyển lao động Thứ nhất, di chuyển lao động là một hoạt động mang tính kinh tế - xã hội. Di chuyển lao động là hoạt động kinh tế vì nó đem lại lợi ích cho cả hai bên tham gia, thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa bên cung (người lao động) và bên cầu (người sử dụng lao động). Với tư cách là chủ thể của một hoạt động kinh tế, cả bên cung và bên cầu khi tham gia vào hoạt động di chuyển lao động đều nhằm hướng đến lợi ích kinh tế. Hoạt động này nhằm thực hiện chức năng kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng lao động, đồng thời thỏa mãn lợi ích kinh tế của 7 Di chuyển lao động quốc tế, [https://123doc.org/document/4053843-di-chuyen-lao-dong-quoc-te.
8 Di chuyển lao động quốc tế tại Việt Nam, [https://123doc.org/document/1388364-luan-van-de-tai-di-chuyen- lao-dong-quoc-te-tai-viet-nam. 10 người lao động. Họ luôn luôn tính toán giữa chi phí phải bỏ ra với lợi nhuận thu được để có quyết định hành động cuối cùng sao cho lợi nhất.