Tổng quan nghiên cứu

Năm 2014, ngành chăn nuôi heo tại tỉnh Bến Tre chiếm tới 60,22% tổng giá trị sản xuất toàn ngành chăn nuôi của địa phương, cung ứng ra thị trường trên 468.000 con heo thịt xuất chuồng với tốc độ tăng trưởng tổng đàn bình quân đạt 2,06%/năm trong giai đoạn 2010 - 2014. Mặc dù giữ vị trí xung kích trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động chăn nuôi heo của tỉnh vẫn chủ yếu duy trì ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ với hơn 80% tổng đàn được phân tán tại các gia đình, trong đó nhóm hộ nuôi từ 1 đến 20 con chiếm tới 84,38% tổng số hộ chăn nuôi toàn tỉnh. Phương thức sản xuất manh mún này khiến người chăn nuôi đối mặt với hàng loạt rủi ro nghiêm trọng như dịch bệnh tai xanh, dịch lở mồm long móng, biến động giá cả thức ăn đầu vào và cuộc khủng hoảng thị trường do thông tin sử dụng chất cấm.

Mô hình liên kết sản xuất thông qua tổ hợp tác theo tinh thần Nghị định số 151/2007/NĐ-CP được xác định là giải pháp then chốt nhằm tái cơ cấu ngành, song toàn tỉnh mới chỉ thành lập được 21 tổ hợp tác với hơn 550 thành viên. Luận văn tập trung giải quyết hai mục tiêu cụ thể: phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế - tài chính giữa nông hộ có tham gia và không tham gia tổ hợp tác; đồng thời xác định, lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết của hộ chăn nuôi. Phạm vi không gian nghiên cứu được triển khai tại hai huyện trọng điểm chăn nuôi lớn nhất tỉnh là Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc với tổng đàn đạt 292.546 con năm 2015, sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2015 và dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2015. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng cao tỷ suất lợi nhuận bình quân của hộ nông dân từ mức âm 0,03 triệu đồng/con lên mức dương 0,19 triệu đồng/con, tạo nền tảng hoạch định chính sách phát triển kinh tế tập thể bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của ba lý thuyết kinh tế và xã hội học kinh điển:

Thứ nhất, Lý thuyết lợi thế theo quy mô (Economies of Scale) khẳng định rằng việc gia tăng sản lượng sẽ giúp giảm chi phí bình quân dài hạn. Khi các hộ gia đình liên kết thành tổ hợp tác, họ đạt được lợi thế quy mô bên trong nhờ khả năng đàm phán mua thức ăn, thuốc thú y số lượng lớn với mức chiết khấu cao, đồng thời tối ưu hóa chi phí vận chuyển và áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến.

Thứ hai, Lý thuyết Người ủy quyền - Người đại diện (Principal - Agent Theory) của Spence và Zeckhauser (1971) cùng Jensen và Meckling (1976) giải thích tương tác giữa thành viên tổ hợp tác (người ủy quyền) và ban điều hành tổ hợp tác (người đại diện). Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, rủi ro lựa chọn bất lợi và mối nguy đạo đức xuất hiện, làm phát sinh chi phí đại diện gồm chi phí giám sát, chi phí ràng buộc trách nhiệm và tính minh bạch thông tin.

Thứ ba, Lý thuyết Vốn xã hội (Social Capital Theory) theo quan điểm của Bourdieu (1986), Coleman (1988) và Ngân hàng Thế giới (2005) nhấn mạnh vai trò của mạng lưới quan hệ xã hội, mức độ tin cậy và sự tương trợ cộng đồng. Vốn xã hội thúc đẩy hành động tập thể, giúp giảm thiểu chi phí giao dịch và nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn lực tín dụng, kỹ thuật.

Khung phân tích tích hợp 4 nhóm khái niệm chính: Hiệu quả tài chính (chi phí, doanh thu, lợi nhuận, hệ số BCR), Đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ, Vốn xã hội và Cơ chế đại diện trong quản trị tổ chức.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng chặt chẽ với các thông số cụ thể:

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng cỡ mẫu khảo sát chính thức là 200 hộ chăn nuôi heo (gồm 100 hộ có tham gia tổ hợp tác và 100 hộ không tham gia tổ hợp tác) được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng tỷ lệ (proportionate stratified sampling) từ tổng thể 19.389 hộ chăn nuôi. Mẫu được phân bổ đều tại 4 xã có quy mô tổng đàn lớn nhất thuộc 2 huyện: xã Tân Bình và xã Tân Thanh Tây (huyện Mỏ Cày Bắc); xã Cẩm Sơn và xã Đa Phước Hội (huyện Mỏ Cày Nam), mỗi xã 50 mẫu. Cỡ mẫu 200 quan sát đảm bảo độ tin cậy 95% với mức sai số cho phép dưới 5%.

Thu thập dữ liệu: Sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc tích hợp thang đo Likert 5 mức độ để đo lường nhận thức, kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp 20 mẫu thử nghiệm và các cuộc thảo luận chuyên sâu với cán bộ thú y, chính quyền địa phương cùng đại diện doanh nghiệp cung ứng thức ăn chăn nuôi từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2015.

Phương pháp phân tích: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2007 và STATA 12. Tác giả áp dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích chi phí - lợi nhuận (Benefit Cost Ratio - BCR), kiểm định Independent Samples T-test để đối chiếu hiệu quả tài chính giữa hai nhóm hộ. Đồng thời, mô hình hồi quy kinh tế lượng Logit đa biến ước lượng theo phương pháp hợp lý tối đa (MLE) với 15 biến độc lập được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng và tính toán hệ số tác động biên đến xác suất tham gia tổ hợp tác của nông hộ. Mô hình Logit là lựa chọn tối ưu nhờ khả năng xử lý hoàn hảo biến phụ thuộc nhị phân (nhận giá trị 1 nếu tham gia và 0 nếu không tham gia).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại bốn phát hiện then chốt về mặt định lượng và hành vi kinh tế của nông hộ:

Thứ nhất, có sự chênh lệch rõ rệt về tổng chi phí sản xuất giữa hai nhóm hộ. Tổng chi phí bình quân để nuôi 1 con heo thịt 100kg của hộ tham gia tổ hợp tác là 3,93 triệu đồng, trong khi hộ không tham gia phải chi trả 4,14 triệu đồng (tiết kiệm 5,07% tổng chi phí).

Thứ hai, chi phí thức ăn là nhân tố tạo ra sự cách biệt lớn nhất. Hộ tham gia tổ hợp tác chỉ tiêu tốn bình quân 2,36 triệu đồng tiền thức ăn cho mỗi con heo xuất chuồng, thấp hơn 8,88% so với mức 2,59 triệu đồng của hộ không tham gia. Điều này xuất phát từ việc các tổ hợp tác được hưởng mức chiết khấu thương mại trực tiếp từ 10% đến 12,5% khi ký hợp đồng mua số lượng lớn từ nhà máy.

Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc về chỉ tiêu sinh lời. Hộ tham gia tổ hợp tác đạt lợi nhuận bình quân 185.551 đồng/con với tỷ số BCR đạt 1,05 và hiệu quả sử dụng vốn đạt 4,83%. Ngược lại, các hộ chăn nuôi đơn lẻ ghi nhận mức lỗ bình quân 25.945 đồng/con, tỷ số BCR chỉ đạt 0,99 và hiệu quả sử dụng vốn âm 0,7%.

Thứ tư, kết quả kiểm định t-test khẳng định sự khác biệt về chi phí sản xuất (t = 2,68; p = 0,007) và lợi nhuận (t = 2,45; p = 0,015) giữa hai nhóm hộ có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%. Tuy nhiên, doanh thu bình quân của hai nhóm không có sự khác biệt (đều đạt xấp xỉ 4,11 triệu đồng/con) do cả hai nhóm vẫn phải tiêu thụ qua hệ thống thương lái địa phương mà chưa có hợp đồng bao tiêu đầu ra ổn định.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét cơ cấu chi phí qua dữ liệu bảng biểu, chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 60% tổng chi phí chăn nuôi heo thịt, tiếp theo là chi phí con giống chiếm khoảng 30%, thuốc thú y và chi phí khác chiếm dưới 10%. Trong bối cảnh giá heo hơi sụt giảm mạnh hơn 500.000 đồng/tạ tại thời điểm khảo sát, việc tiết kiệm hơn 230.000 đồng chi phí thức ăn mỗi con thông qua liên kết tập thể đóng vai trò như một tấm đệm an toàn tài chính, quyết định việc hộ nông dân có lãi hay thua lỗ.

Kết quả hồi quy Logit cho thấy các biến số: trình độ học vấn của chủ hộ (trung bình mẫu đạt 8,61 năm), sự tham gia họp đoàn thể địa phương, năng lực điều hành của ban chủ nhiệm, tính công khai minh bạch tài chính và quy chế ràng buộc trách nhiệm tổ trưởng có tương quan dương mang ý nghĩa thống kê đối với xác suất tham gia tổ hợp tác. Vốn xã hội thể hiện qua số người có thể mượn tiền (mạng lưới tương trợ) và số bạn thân làm tăng đáng kể khả năng gia nhập liên kết. Ngược lại, chi phí đại diện cao và tâm lý e ngại mất quyền tự chủ là rào cản lớn đối với các hộ có quy mô chăn nuôi trên 100 con.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm của Osterberg và cộng sự (2007) cũng như Nguyễn Trọng Hoài (2011), tái khẳng định rằng lòng tin xã viên và sự minh bạch trong quản trị điều hành là những điều kiện tiên quyết để mô hình kinh tế tập thể phát triển bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy nông hộ tham gia tổ hợp tác và nâng cao giá trị ngành chăn nuôi heo tại tỉnh Bến Tre, các nhóm giải pháp đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị và tính minh bạch của ban điều hành tổ hợp tác.

  • Hành động: Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý kinh tế, kỹ năng thương lượng hợp đồng và thiết lập quy chế công khai tài chính định kỳ hàng tháng cho 100% tổ trưởng tổ hợp tác.
  • Mục tiêu đo lường: Đạt tỷ lệ trên 90% thành viên đánh giá cao sự minh bạch và năng lực quản lý của ban điều hành vào cuối năm 2016.
  • Chủ thể thực hiện: Chi cục Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân hai huyện Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc.

Thứ hai, cải cách cơ chế tín dụng ưu đãi cho thành viên tổ hợp tác.

  • Hành động: Ban hành quy trình vay vốn thế chấp bằng phương án sản xuất kinh doanh khả thi có chứng thực của tổ hợp tác và chính quyền cấp xã, bãi bỏ quy định giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các khoản vay dưới 100 triệu đồng.
  • Mục tiêu đo lường: Nâng tỷ lệ hộ chăn nuôi trong tổ hợp tác tiếp cận được vốn vay ưu đãi lên 75% trong giai đoạn 2016 - 2018.
  • Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Bến Tre cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Thứ ba, thiết lập chuỗi liên kết giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ.

  • Hành động: Đàm phán và ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp giữa 21 tổ hợp tác hiện hữu với các doanh nghiệp chế biến thực phẩm uy tín nhằm xóa bỏ hoàn toàn khâu trung gian thương lái.
  • Mục tiêu đo lường: Gia tăng giá bán xuất chuồng thêm 3% đến 5% và đảm bảo bao tiêu 100% sản lượng heo thịt đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm vào năm 2017.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp cùng Sở Công Thương tỉnh Bến Tre.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và phòng ngừa dịch bệnh sinh học.

  • Hành động: Triển khai tối thiểu 40 đợt tập huấn kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học VietGAHP, hỗ trợ lắp đặt 100% hệ thống hầm biogas xử lý chất thải cho các thành viên tổ hợp tác.
  • Mục tiêu đo lường: Giảm tỷ lệ heo mắc dịch bệnh xuống dưới 3% và giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường tại các vùng nuôi trọng điểm trong vòng 18 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Trạm Thú y huyện và Hội Nông dân các cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp cấp huyện): Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung phân tích định lượng để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 151/2007/NĐ-CP, xây dựng đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi và ban hành các gói hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể tại cấp cơ sở.

Nhóm thứ hai, ban quản trị các tổ hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp: Cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn về cơ chế kiểm soát người đại diện, giải pháp giảm thiểu chi phí đại diện, phương thức công khai minh bạch tài chính và nghệ thuật đàm phán hợp đồng cung ứng vật tư đầu vào giúp tiết kiệm 8% đến 12% chi phí thức ăn cho xã viên.

Nhóm thứ ba, các hộ nông dân và chủ trang trại chăn nuôi heo: Giúp người chăn nuôi nhận thức rõ sự khác biệt mang tính sống còn về lợi nhuận (mức chênh lệch hơn 211.000 đồng/con heo thịt) giữa việc nuôi đơn lẻ và tham gia liên kết tập thể, từ đó tự tin thay đổi tư duy sản xuất, chủ động gia nhập các tổ chức liên kết.

Nhóm thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp một case-study hoàn chỉnh về việc vận dụng kết hợp ba lý thuyết kinh tế hiện đại cùng quy trình thiết kế bảng hỏi Likert, phương pháp chọn mẫu phân tầng và kỹ thuật ước lượng mô hình hồi quy Logit bằng phần mềm STATA 12.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao chi phí chăn nuôi của hộ tham gia tổ hợp tác lại thấp hơn hộ chăn nuôi đơn lẻ? Hộ tham gia tổ hợp tác tiết kiệm được chi phí nhờ vào lợi thế quy mô khi liên kết mua chung thức ăn chăn nuôi trực tiếp từ nhà máy hoặc đại lý cấp một. Việc mua số lượng lớn giúp họ nhận mức chiết khấu thương mại từ 10% đến 12,5%, kéo giảm chi phí thức ăn từ 2,59 triệu đồng xuống còn 2,36 triệu đồng trên mỗi con heo thịt 100kg.

  2. Tại sao doanh thu bán heo thịt giữa hai nhóm hộ lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê? Kết quả phân tích định lượng cho thấy doanh thu bình quân của cả hai nhóm đều ở mức 4,11 triệu đồng/con. Nguyên nhân chính là các tổ hợp tác tại thời điểm nghiên cứu chỉ mới tập trung liên kết ở khâu vật tư đầu vào, chưa thiết lập được hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp chế biến nên vẫn phải bán cho thương lái tự do theo giá thị trường.

  3. Những yếu tố nào về mặt quản trị tác động mạnh nhất đến quyết định tham gia tổ hợp tác của nông hộ? Năng lực quản lý của tổ trưởng, tính minh bạch trong phân phối lợi ích và sự ràng buộc trách nhiệm của ban điều hành là những biến số có tác động dương mạnh nhất. Người nông dân chỉ sẵn sàng tham gia khi chi phí đại diện được tối thiểu hóa và hợp đồng hợp tác được chứng thực bởi chính quyền cấp xã nhằm bảo vệ quyền lợi của họ.

  4. Vai trò của vốn xã hội được thể hiện như thế nào trong mô hình nghiên cứu? Vốn xã hội được đo lường thông qua mạng lưới quan hệ, sự tin tưởng lẫn nhau, số lượng bạn thân và khả năng vay mượn tài chính trong cộng đồng. Mô hình Logit chứng minh rằng những chủ hộ có mạng lưới giao tiếp rộng và thường xuyên tham gia sinh hoạt đoàn thể có xác suất gia nhập tổ hợp tác cao hơn đáng kể nhờ tiếp cận thông tin nhanh chóng.

  5. Rào cản lớn nhất trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ chăn nuôi tại Bến Tre là gì? Mặc dù chính sách cho vay đối với tổ hợp tác không yêu cầu thế chấp tài sản theo quy định, các tổ chức tín dụng vẫn áp dụng thủ tục giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này gây cản trở lớn đối với hơn 40% hộ chăn nuôi chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc đã đem thế chấp cho các khoản vay dài hạn khác.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh tính vượt trội về hiệu quả tài chính của mô hình tổ hợp tác khi mang lại lợi nhuận 185.551 đồng/con heo thịt (BCR = 1,05), trong khi hộ nuôi đơn lẻ chịu lỗ 25.945 đồng/con (BCR = 0,99).
  • Lợi thế kinh tế theo quy mô trong khâu mua sắm thức ăn chăn nuôi được khẳng định là chìa khóa then chốt giúp giảm 5,07% tổng chi phí sản xuất cho các hộ liên kết.
  • Mô hình hồi quy Logit đã định lượng thành công vai trò quyết định của trình độ học vấn, năng lực tổ trưởng, tính minh bạch thông tin và nguồn vốn xã hội đối với hành vi tham gia tổ hợp tác của nông dân.
  • Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc giúp ngành nông nghiệp tỉnh Bến Tre nhân rộng 21 tổ hợp tác hiện có tại hai huyện Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc thành các mô hình hợp tác xã kiểu mới.
  • Thiết lập lộ trình khuyến nghị toàn diện giai đoạn 2016 - 2020 nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý, tháo gỡ rào cản tín dụng và xây dựng chuỗi liên kết bao tiêu nông sản bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý nông nghiệp quan tâm đến việc hoàn thiện cơ chế kinh tế tập thể hãy khai thác chi tiết các bộ dữ liệu, thang đo và hệ số hồi quy trong toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác thực tiễn.