chương 1 thì luận án đã trình bày cụ thể các mục tiêu nghiên cứu, cũng như các câu hỏi nghiên cứu mà luận án phải trả lời trong các chương sau, đồng thời cũng nói rõ phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận án về thực tiễn và khoa học, lập luận lý do của việc lựa chọn vấn đề và địa bàn nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Sau khi xác định rõ các mục tiêu đã đặt ra, cũng như các câu hỏi cần phải giải đáp, qua Chương 2 luận án sẽ trình bày một cách có hệ thống và chi tiết cơ sở lý thuyết (khung khái niệm, các lý thuyết tăng trưởng kinh tế) để làm cơ sở lập luận vững chắc cho việc lựa chọn cách tiếp cận, mô hình ước lượng. Đồng thời Chương 2 cũng sẽ lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng nông nghiệp đã được thực hiện, biện luận những điểm thành công và hạn chế của các nghiên cứu để từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu của luận án.1 Cơ sở lý thuyết Đầu tiên, luận án sẽ bàn luận về các lý thuyết tăng trưởng bao gồm lý thuyết tăng trưởng Cổ điển, lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển và lý thuyết tăng trưởng mới. Việc luận bàn này nhằm cung cấp cái nhìn thấu đáo về sự hình thành và phát triển của các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, những vấn đề tồn tại của các lý thuyết tăng trưởng.
Từ đó luận án sẽ lựa chọn lý thuyết nền và cách tiếp cận để làm cơ sở ước lượng tăng trưởng nông nghiệp.1 Lý thuyết tăng trưởng Cổ điển Lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith (1776) cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là do công nghệ, các yếu tố xã hội và sự tích lũy tư bản. Do sự phân công lao động mà năng suất được tăng lên, mà phân công lao động là nhờ sự tích lũy và đầu tư tư bản vào sản xuất. Trong lý thuyết tăng trưởng này Adam Smith nhấn mạnh vai trò của thương mại và tự do thương mại. Chính việc mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu mà nền kinh tế có sự tăng trưởng do mở rộng thương mại sẽ làm gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, khi tổng cầu gia tăng sẽ bắt buộc các nhà sản xuất phải thực hiện phân công lao động.
Như vậy lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith (1776) đã công nhận vai trò của công nghệ, phân công lao động, tư bản (vốn) và của thương mại, tuy nhiên đã phủ nhận vai trò can thiệp của chính phủ. Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo (1817) đã đưa thêm vai trò của tài nguyên thiên nhiên đến tăng trưởng kinh tế và giới hạn của nguồn tài nguyên thiên nhiên là yếu tố làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Ricardo đã xem xét cơ cấu nền kinh tế, mối quan hệ giữa các khu vực của nền kinh tế. Ricardo cho rằng sự phát triển của khu vực công nghiệp bị ảnh hưởng bởi khu vực nông nghiệp bởi khi giá lương thực thực phẩm tăng cao sẽ làm gia tăng tiền lương của khu vực công nghiệp, từ đó làm chi phí sản xuất tăng và lợi nhuận của các nhà tư bản đầu tư vào công nghiệp sẽ bị giảm xuống.
Ngoài ra, Ricardo cũng chỉ ra giới hạn về nguồn lực đất đai sẽ làm cho ngành nông nghiệp không thể thoát khỏi quy luật lợi tức giảm dần. Tuy nhiên, Ricardo cũng đã 8 chỉ ra công nghệ (được hình thành dựa trên kinh nghiệm sản xuất và thử nghiệm của người nông dân) là yếu tố giúp nông nghiệp các nước nghèo phát triển. Với nhận định này thì mô hình tăng trưởng của Ricardo khá tương đồng với mô hình học hỏi (learning by doing) của lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết chuyển đổi nông nghiệp truyền thống của Schultz (1964). Như vậy mô hình tăng trưởng này cho thấy sự tăng trưởng giảm dần của nền nông nghiệp do hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, chỉ ra được mối tương quan giữa các khu vực sản xuất của nền kinh tế, kinh nghiệm sản xuất và thử nghiệm sẽ hình thành nên công nghệ sản xuất.
Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng của Ricardo cũng như mô hình tăng trưởng của Adam Smith đã bỏ qua vai trò của chính phủ vào giải thích sự tăng tưởng của nền kinh tế. Mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar (1939). Điểm nổi bật của mô hình tăng trưởng này là đề cao vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế. Đầu tư ròng sẽ làm tăng tổng cầu và từ đó làm gia tăng sản lượng và việc làm trong ngắn hạn.
Hai nhà kinh tế đã xây dựng một mô hình toán thể hiện mối liên hệ giữa đầu tư và mức sản lượng thông qua một đại lượng gọi là hệ số gia tăng vốn trên sản lượng – và nghịch đảo của chỉ tiêu trên được biết đến với ký hiệu ICOR. Chỉ số ICOR này phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất và hiệu suất của vốn đầu tư. Nền kinh tế nào có hệ số ICOR thấp cho thấy trình độ kỹ thuật còn thô sơ, sử dụng nhiều lao động (phát triển theo chiều rộng) và ngược lại. Mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar (1939) đã nhấn mạnh vai trò của vốn và chỉ ra mối quan hệ giữa vốn và sản lượng.
Mặc dù vậy mô hình tăng trưởng này vẫn còn đơn giản bởi thiếu nhiều biến số đưa vào mô hình toán ước lượng tăng trưởng của nền kinh tế như lao động, sự can thiệp của chính phủ, tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là công nghệ vẫn còn bị bỏ ngỏ.2 Lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển Lý thuyết tăng trưởng Solow-Swan (1956) kế thừa mô hình tăng trưởng Harrod – Domar bằng cách đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ ngoài yếu tố vốn vào hàm sản xuất để giải thích sự tăng trưởng của nền kinh tế. Mô hình này chỉ ra tiết kiệm, tăng dân số, tiến bộ công nghệ tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế theo thời gian. Xem xét những giả định và mối quan hệ của các yếu tố tác động đến tăng trưởng của lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển trong trường hợp công nghệ bao hàm trong lao động. Khi đó, các yếu tố vốn (K), lao động (L) và kiến thức (A) để tạo ra sản lượng được thể hiện quả hàm sản xuất có dạng: 𝑌(𝑡) = 𝐹[𝐾(𝑡), 𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)] (2.1) Hàm sản xuất (2.1) có các đặc điểm sau: (i) Thời gian không được xem xét một cách trực tiếp mà chỉ thông qua K, L và A, nghĩa là sản lượng chỉ thay đổi theo thời gian khi các đầu vào của quá trình sản xuất được thay đổi.
9 (ii) K và L là các biến điểm nên vì vậy tỷ lệ sử dụng của hai nhân tố này được giả định là bằng 1. (iii) Yếu tố A và L đi đôi với nhau, nên AL được gọi là lao động hiệu quả và công nghệ là công nghệ bao hàm trong lao động. Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển có những giả định như sau: (i) Sản phẩm cận biên của mỗi nhân tố đều có giá trị dương (FK > 0; FL > 0) và mỗi nhân tố đều tuân theo quy luật lợi tức giảm dần (FKK < 0; FLL < 0). (ii) Vốn và lao động có thể thay thế cho nhau (FKL > 0) (iii) F(mK,mAL) = mF(K, AL), m≥ 0 nghĩa là hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô.
(iv) Các yếu tố khác, cụ thể đó là những yếu tố không phải là vốn, lao động và kiến thức đều không có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất. Với những giả định trên thì hàm sản xuất Cobb – Douglas được sử dụng và có dạng thức như sau: 𝑌 = 𝐹(𝐾, 𝐴𝐿) = 𝐾𝖺(𝐴𝐿)1−𝖺 , 0 <𝖺 < 1 (2.2) Do xem xét sự biến đổi của lao động, vốn và kiến thức theo thời gian nên mô hình được xây dựng trong thời gian liên tục, nghĩa là các biến được của mô hình xác định tại mọi thời điểm. Gọi 𝑛 𝑣à 𝜆 là tốc độ tăng trưởng của lao động và công nghệ, theo giả định của mô hình Solow thì cả hai tốc độ này đều cố định và ngoại sinh.3) 𝐿(𝑡) 𝐴(𝑡) Phương trình (2.3) được viết lại thành: 𝑙𝑛𝐿(𝑡) = [𝑙𝑛𝐿(0)] + 𝑛𝑡; 𝑙𝑛𝐴(𝑡) = [𝑙𝑛𝐴(0)] + 𝜆𝑡 (2.4) Lấy lũy thừa hai vế ta được: 𝐿 = 𝐿(0)𝑒𝑛𝑡; 𝐴 = 𝐴(0)𝑒𝜆𝑡 (2.5) Như vậy lao động và công nghệ tăng trưởng cấp số mũ. Tại điểm cân bằng (hay ở trạng thái dừng) thì k1 sẽ cố định tại k*, lượng vốn K2 thì sẽ gia tăng với tốc độ: 𝐾 𝐴 𝐿 𝑔∗ = | = + =𝑛+𝜆 (2.6) 𝑘 𝐾 𝑘=𝑘∗ 𝐴 𝐿 Tốc độ tăng trưởng của sản lượng Y3 tại trạng thái dừng là: 1 k =K/AL 2 K = k.7) Bởi vì y không đổi tại 𝑘∗𝛼 đồng nghĩa với việc 𝑦/𝑦| = 0, do đó sản lượng tăng 𝑘=𝑘∗ trưởng cùng tốc độ với vốn và lao động.
Tốc độ tăng trưởng của vốn bình quân lao động (𝑔𝐾/𝐿 ∗ ) và sản lượng bình quân lao động (𝑔𝑌/𝐿 ∗ ) được xác định như sau: 𝐿 ∗ ∗ 𝐿 𝑔∗ ∗ − = 𝜆; (2.8) 𝐾/𝐿 = 𝑔𝐾 − = 𝜆; 𝑔𝑌/𝐿 = 𝑔𝑌 𝐿 𝐿 Phương trình (2.8) cho thấy trên đường tăng trưởng đều (steady-state) thì tốc độ tăng của sản lượng bình quân lao động chỉ do tốc độ tiến bộ công nghệ, nghĩa là nó không phụ thuộc vào tiết kiệm (chính là lượng vốn) và hình thức hàm của hàm sản xuất. Từ sự phân tích trên, nghiên cứu rút ra những nhận xét như sau: Với giả định lợi tức không đổi theo quy mô khi mà nguồn lực về vốn để không xảy ra lợi ích tăng thêm nhờ chuyên môn thì giả định này có thể được đảm bảo. Tuy nhiên đối với các quốc gia đang phát triển thì bài toán về vốn vẫn là bài toán nan giải, thêm vào đó nếu chính phủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng (đường xá, đê điều…) thì sản lượng trên đầu người có thể tăng với lợi tức tăng dần ( 𝑓′′(𝑘) > 0). Vì giả định công nghệ bao hàm trong lao động và cố định (nghĩa là một con số cho trước – ngoại sinh) nên tốc độ tăng của lao động và công nghệ là bằng nhau.
Tuy nhiên, thực tế thì công nghệ có thể nằm trong vốn và lao động. Trong trường hợp công nghệ nằm trong lao động thì qua quá trình lao động thì công nghệ (kỹ năng, kinh nghiệm) sẽ được tạo ra (hay công nghệ là một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất). Vì vậy tốc độ tăng của công nghệ có thể thực tế không bằng với tốc độ tăng của lao động và không phải là yếu tố ngoại sinh.