Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp với đề tài "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Võ Thành Danh tại Trường Đại học Cần Thơ (bảo vệ năm 2022).
Về tính cấp thiết, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vị trí then chốt trong cấu trúc kinh tế nông nghiệp Việt Nam, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và phục vụ xuất khẩu lúa gạo, thủy sản, trái cây. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2016 – 2020, giá trị GDP Nông – Lâm – Thủy sản của ĐBSCL đóng góp thường xuyên trên 31% đến hơn 33% vào tổng GDP nông nghiệp toàn quốc (năm 2016 đạt 32,24%; năm 2017 đạt 32,40%; năm 2018 đạt 32,77%; năm 2019 đạt 33,28%; năm 2020 đạt 31,71%). Tuy nhiên, nền sản xuất nông nghiệp của vùng đang đối mặt với những nguy cơ suy giảm tài nguyên và biến đổi khí hậu nghiêm trọng:
- Tác động tiêu cực từ các công trình thủy điện thượng nguồn sông Mekong tại Lào và việc chuyển đổi dòng chảy tại Thái Lan làm sụt giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn nước ngọt và gia tăng mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng.
- Xâm nhập mặn mùa khô gây tổn hại sinh kế và sản xuất; số liệu thống kê của Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019) ghi nhận 3.771 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại, trong đó tỉnh Cà Mau thiệt hại trên 70% diện tích (khoảng 2.700 ha), các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh chịu mức độ thiệt hại từ 30% đến 70%.
- Sạt lở bờ sông và bờ biển diễn ra phức tạp; tỉnh Cà Mau mất khoảng 8.000 ha rừng phòng hộ ven biển từ năm 2007 do xói mòn, trong khi tỉnh Bến Tre ghi nhận 92 điểm sạt lở bờ sông với tổng chiều dài 118 km.
- Về mặt định hướng vĩ mô, các văn bản của Chính phủ như Quyết định số 1397/QĐ-TTg, Nghị quyết số 63/2009/NQ-CP, Quyết định số 580/QĐ-TTg, Nghị quyết số 120/NQ-CP và Quyết định số 633/QĐ-TTg đã thể hiện rõ sự chuyển đổi tư duy: không còn duy trì vị thế độc tôn của cây lúa mà chủ động chuyển đổi hệ thống canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu, lấy khoa học – công nghệ và nâng cao năng suất làm động lực tăng trưởng bền vững.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây tại Việt Nam phần lớn chỉ xem xét tăng trưởng nông nghiệp trên phạm vi cả nước với chuỗi thời gian ngắn hoặc đã thực hiện cách đây khá lâu, hoặc chỉ tập trung vào một ngành hàng đơn lẻ tại ĐBSCL. Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng mô hình bảng tĩnh (hiệu ứng cố định - FE, hiệu ứng ngẫu nhiên - RE) chỉ giải thích trạng thái dài hạn mà bỏ qua mối quan hệ động ngắn hạn, thiếu kiểm định sự tác động lan tỏa của khoa học – công nghệ qua các yếu tố vốn, lao động, cũng như chưa kiểm chứng vai trò của năng lực quản trị hành chính cấp địa phương đối với năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP).
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp, phân tách TFP và ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến TFP ngành nông nghiệp ĐBSCL, trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý chính sách cho tăng trưởng nông nghiệp ĐBSCL trong thời gian tới trong bối cảnh sản xuất mới.
- Mục tiêu cụ thể:
- (1) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp.
- (2) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất các yếu tố tổng hợp.
- (3) Phân tích hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
- (4) Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm đạt được sự tăng trưởng bền vững của nông nghiệp ĐBSCL.
Câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi:
- (1) Các yếu tố nguồn lực nào ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng nông nghiệp?
- (2) Những yếu tố nào có tác động đến sự tăng trưởng của năng suất các yếu tố tổng hợp ngành nông nghiệp?
- (3) Hiệu quả sản xuất của nông nghiệp ĐBSCL trong giai đoạn nghiên cứu bị như thế nào?
- (4) Các hàm ý chính sách phù hợp cho phát triển và tăng trưởng nông nghiệp ĐBSCL trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố nguồn lực đầu vào ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng nông nghiệp và năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) cùng các yếu tố tác động đến TFP của ngành nông nghiệp ĐBSCL.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ 13 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương thuộc vùng ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Long An, Bến Tre, Hậu Giang, Vĩnh Long).
- Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài 26 năm, từ năm 1995 đến năm 2020. Mốc 1995 được lựa chọn do các giai đoạn trước đó thiếu tính đồng bộ và đầy đủ về mặt thống kê.
Cách tiếp cận phân tích của đề tài là cách tiếp cận vi mô đối với các yếu tố đầu vào sản xuất nhằm phân tích đối tượng ở quy mô vĩ mô toàn ngành cho một vùng lãnh thổ, sử dụng số liệu tổng gộp về đầu vào (aggregate inputs) và đầu ra (aggregate output).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các trường phái lý thuyết tăng trưởng kinh tế và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến tăng trưởng nông nghiệp:
Về lý thuyết tăng trưởng:
- Lý thuyết Cổ điển: Luận án điểm lại luận điểm của Adam Smith (1776) về phân công lao động, tích lũy tư bản và mở rộng thương mại; David Ricardo (1817) về sự giới hạn của tài nguyên thiên nhiên (đất đai) dẫn đến quy luật lợi tức giảm dần, đồng thời đề cập đến công nghệ hình thành qua kinh nghiệm của nông dân; mô hình Harrod – Domar (1939) nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư và hệ số gia tăng vốn trên sản lượng (ICOR).
- Lý thuyết Tân cổ điển: Mô hình Solow – Swan (1956) kế thừa các mô hình trước bằng cách đưa vốn, lao động và tiến bộ công nghệ vào hàm sản xuất Cobb – Douglas với giả định lợi tức không đổi theo quy mô và công nghệ mang tính ngoại sinh.
- Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: Các nghiên cứu của Jones & Manuelli (1997), Aghion & Howitt (1998), Gancia & Zilibotto (2005), Romer (1986, 1990), Lucas (1988), Mankiw, Romer & Weil (1992) khẳng định tiến bộ kỹ thuật không phải biến ngoại sinh mà phụ thuộc vào đầu tư cho nghiên cứu, học hỏi qua thực hành (learning by doing) và tích lũy vốn con người.
- Lý thuyết chuyển đổi nông nghiệp truyền thống của Schultz (1964): Nhấn mạnh nông nghiệp truyền thống có hiệu quả phân bổ nguồn lực thấp do duy trì phương thức sản xuất cũ qua nhiều thế hệ; công nghệ sản xuất và giáo dục (vốn con người) là nhân tố quyết định để chuyển đổi sang nông nghiệp hiện đại.
Về nghiên cứu thực nghiệm các nguồn lực sản xuất nông nghiệp:
- Yếu tố vốn và vốn con người: Fan & Pardey (1997), Fan & Zhang (2001), Belloumi & Matoussi (2009), Wang et al. (2015) phân tích các phương pháp đo lường vốn vật chất (phương pháp kiểm kê liên tiếp PIM, số lượng máy móc, đầu gia súc kéo). Đối với vốn con người, Lockheed et al. (1980) chỉ ra 4 năm đi học giúp tăng 9,5% năng suất ở nông dân hiện đại; Jamison & Lau (1982), Nehru & Dhareshwar (1994), Asfaw & Admassie (1996), Weir (1999), Zepeda (2001) chứng minh giáo dục thúc đẩy khả năng tiếp nhận khoa học kỹ thuật. Các nghiên cứu của Bloom & Sachs (1998), Rivera & Currais (2003), Cole & Neumayer (2003), Jajri & Ismail (2007), Fleisher et al. (2010), Arshad & Malik (2015) phân tích khía cạnh sức khỏe và trình độ lao động tác động đến năng suất.
- Yếu tố lao động: Capalbo & Denny (1986), Zepeda (2001), Avila & Evenson (2010), Fuglie & Rada (2013) chỉ ra hệ số co giãn của lao động đến giá trị gia tăng nông nghiệp rất cao ở các nước đang phát triển, trong khi các nước phát triển có xu hướng giảm dần tỷ trọng lao động cơ bắp (Zhou & Peng, 2011; Wang et al., 2015).
- Yếu tố đất đai và thủy lợi: Bhattarai (1996) tính toán 1% diện tích có tưới tiêu giúp tăng 0,32% TFP ở Ấn Độ; Van der Eng (1996), Awan & Mustafa (2012), Jin et al. (2015), Zhou (2013) và OECD (2015) phân tích biến động diện tích đất canh tác do đô thị hóa và vai trò của thủy lợi. Antle (1983), Manasan & Chatterjee (2003), Mamatazakis (2003) phân tích hạ tầng giao thông nông thôn làm giảm chi phí giao dịch.
- Phương pháp và dữ liệu đo lường TFP: Điểm lại các công trình kinh điển của Griliches (1963), Evenson (1967), Hayami & Ruttan (1970), Bhattacharjee (1955), Craig et al. (1997), Lim & Shumway (1997), Chavas & Cox (1992), Coelli & Rao (2003), Ortega & Lederman (2004), O'Donnell (2010), Sun & Kalirajan (2005). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyen & Goletti (2001), Vu (2009), Thanh & Tho (2010), Ho (2012) đều đưa ra bằng chứng nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng dựa nhiều vào các yếu tố đầu vào truyền thống.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết: Luận án bổ sung dữ liệu mới nhất (1995–2020) cho toàn vùng ĐBSCL; áp dụng kỹ thuật bảng động PMG để khắc phục hạn chế của các ước lượng tĩnh; phân rã chỉ số TFP Malmquist bằng phương pháp phi tham số DEA nhằm bóc tách rành mạch giữa thay đổi kỹ thuật (TC) và thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC); đồng thời đưa chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) vào mô hình hồi quy giải thích TFP để đánh giá khía cạnh thể chế và năng lực điều hành kinh tế địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển của Solow – Swan (1956) kết hợp với mở rộng của Schultz (1964) và lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Khung phân tích nguồn gốc tăng trưởng dựa trên mô hình của USDA: tăng trưởng tổng sản lượng được phân rã thành tăng trưởng đầu vào, tăng trưởng TFP và các cú sốc ngắn hạn.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa kỹ thuật tham số (kinh tế lượng) và phi tham số (DEA):
-
Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp:
Sử dụng hàm sản xuất dạng Cobb – Douglas chuyển hóa logarit tự nhiên:
$$\ln(GDP_{it}) = \beta_0 + \beta_1 \ln(K_{it}) + \beta_2 \ln(L_{it}) + \beta_3 \ln(Land_{it}) + u_{it}$$
Trong đó: $GDP_{it}$ là tổng sản phẩm nông nghiệp của tỉnh $i$ tại năm $t$; $K$ là vốn vật chất; $L$ là lao động nông nghiệp; $Land$ là đất nông nghiệp.
Luận án áp dụng phương pháp ước lượng nhóm trung bình gộp (Pooled Mean Group - PMG) thuộc mô hình Panel ARDL đa biến:
$$\Delta \ln(GDP_{it}) = \phi_i \left[ \ln(GDP_{i,t-1}) - \theta_1 \ln(K_{it}) - \theta_2 \ln(L_{it}) - \theta_3 \ln(Land_{it}) - \theta_0 \right] + \sum_{j=1}^{p-1} \lambda_{ij}^* \Delta \ln(GDP_{i,t-j}) + \sum_{j=0}^{q-1} \delta_{1ij}^* \Delta \ln(K_{i,t-j}) + \sum_{j=0}^{q-1} \delta_{2ij}^* \Delta \ln(L_{i,t-j}) + \sum_{j=0}^{q-1} \delta_{3ij}^* \Delta \ln(Land_{i,t-j}) + \epsilon_{it}$$
Kỹ thuật PMG cho phép các hệ số ngắn hạn, phương sai sai số và tốc độ điều chỉnh sai số ($\phi_i$) thay đổi giữa các tỉnh, nhưng ràng buộc các hệ số co giãn dài hạn ($\theta$) đồng nhất trên toàn vùng. Luận án thực hiện các kiểm định nghiệm đơn vị bảng (Panel Unit Root Test), kiểm định phụ thuộc chéo (Pesaran CD test), kiểm định tính đồng nhất hệ số và kiểm định đồng liên kết bảng (Panel Cointegration Test).
-
Mô hình kiểm định sự lan tỏa của khoa học – công nghệ:
Đưa các biến tương tác giữa công nghệ với vốn và lao động nhằm kiểm tra sự tác động lan tỏa của tiến bộ kỹ thuật vào hàm sản xuất thông qua các nguồn lực đầu vào.
-
Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và chỉ số Malmquist TFP:
Luận án sử dụng phương pháp phi tham số DEA với định hướng đầu ra (output-oriented) để đo lường hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (PE) và hiệu quả quy mô (SE). Chỉ số biến động năng suất các yếu tố tổng hợp Malmquist (TFPCH) được phân rã thành:
$$TFPCH = TEC \times TC = (PEC \times SEC) \times TC$$
Trong đó: $TEC$ là thay đổi hiệu quả kỹ thuật; $TC$ là thay đổi công nghệ; $PEC$ là thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần; $SEC$ là thay đổi hiệu quả theo quy mô.
-
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến TFP nông nghiệp:
Sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng TFP, các biến giải thích gồm: chất lượng đất đai (tỷ lệ diện tích đất lúa được tưới tiêu), chất lượng lao động (tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo), quy mô đất canh tác bình quân hộ (farm size), khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ, biến thể chế điều hành quản lý cấp tỉnh (chỉ số PCI) và biến chính sách (tác động của Nghị quyết số 120/NQ-CP).
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Số liệu thứ cấp thu thập từ Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê (TCTK) và Cục Thống kê 13 tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1995 – 2020.
- Số liệu từ các kỳ Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS).
- Số liệu từ các kỳ Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, khẳng định sự cần thiết phải phân tích các nguồn lực tăng trưởng nông nghiệp ĐBSCL trước các biến động môi trường tự nhiên và bối cảnh chính sách mới. Tác giả xác lập hệ thống mục tiêu, 4 câu hỏi nghiên cứu, phân định không gian (13 tỉnh), thời gian (1995–2020), đối tượng nghiên cứu (nguồn lực đầu vào, TFP), chỉ rõ cách tiếp cận vi mô - vĩ mô và phân tích các đóng góp khoa học của luận án.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Nội dung chương 2 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận từ các trường phái tăng trưởng Cổ điển, Tân cổ điển, Tăng trưởng nội sinh đến lý thuyết chuyển đổi nông nghiệp truyền thống của Schultz. Tác giả làm rõ các khái niệm về sản xuất nông nghiệp, đo lường tăng trưởng thông qua giá trị sản lượng (GDP/GRDP), năng suất biên, năng suất đơn phần và năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP). Chương này tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về vai trò của vốn, vốn con người, lao động, đất đai, thủy lợi và cơ sở hạ tầng; đồng thời rà soát các chính sách nông nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ (hợp tác hóa, giao khoán, chuyên canh, đa dạng hóa, chuyển dịch cơ cấu theo Nghị quyết 120/NQ-CP). Qua đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và thiết lập các giả thuyết thống kê làm căn cứ cho việc xây dựng mô hình định lượng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, cấu trúc các mô hình ước lượng và cơ sở dữ liệu. Tác giả thuyết minh quy trình kiểm định kinh tế lượng bảng bao gồm kiểm định tính dừng, kiểm định phụ thuộc chéo, kiểm định đồng liên kết; giải thích chi tiết cơ chế ước lượng PMG để bóc tách mối quan hệ dài hạn, ngắn hạn và hệ số điều chỉnh sai số. Bên cạnh đó, chương 3 trình bày cơ sở toán học của kỹ thuật DEA định hướng đầu ra và thuật toán phân tách chỉ số Malmquist TFP thành các thành phần TEC, TC, PEC, SEC; định nghĩa các biến số, đơn vị đo lường và phương thức xử lý dữ liệu thu thập từ TCTK, VHLSS và Điều tra nông nghiệp nông thôn.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, được triển khai qua các nhóm kết quả:
- Đặc điểm vùng và thực trạng sản xuất: Phân tích vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, 3 tiểu vùng sinh thái (vùng ngập sâu Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; vùng phù sa ngọt ven sông Tiền, sông Hậu; vùng ven biển chịu ảnh hưởng mặn). Bảng thống kê hiện trạng cho thấy lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản là các ngành hàng trụ cột.
- Kết quả các kiểm định kinh tế lượng: Kiểm định nghiệm đơn vị bảng khẳng định tính dừng của các chuỗi dữ liệu ở sai phân bậc 1; kiểm định CD xác nhận có hiện tượng phụ thuộc chéo giữa các địa phương; kiểm định đồng liên kết xác nhận tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến đầu vào và giá trị sản lượng nông nghiệp.
- Ước lượng tăng trưởng nông nghiệp (PMG):
- Trong dài hạn, các yếu tố vốn, lao động và đất đai đều có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến giá trị sản lượng nông nghiệp ĐBSCL. Hệ số co giãn của các yếu tố đầu vào cho thấy tăng trưởng nông nghiệp ĐBSCL chủ yếu diễn ra theo chiều rộng (tăng trưởng theo quy mô đầu vào).
- Tốc độ hiệu chỉnh sai số (Error Correction Term) mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, phản ánh cơ chế tự điều chỉnh của hệ thống để quay về trạng thái cân bằng dài hạn khi xảy ra các cú sốc trong ngắn hạn.
- Kết quả kiểm định sự lan tỏa công nghệ: Bằng chứng thống kê từ mô hình tương tác cho thấy khoa học – công nghệ có tác động thúc đẩy sản lượng thông qua tương tác với các yếu tố đầu vào truyền thống.
- Kết quả phân tích DEA và chỉ số Malmquist TFP: Phân rã TFP nông nghiệp 13 tỉnh giai đoạn 1995 – 2020 chỉ ra rằng động lực chính của tăng trưởng TFP là sự thay đổi công nghệ (TC > 1), trong khi hiệu quả kỹ thuật (TEC) có xu hướng sụt giảm hoặc đóng góp âm vào tăng trưởng TFP, phản ánh tình trạng việc khai thác tiềm năng của công nghệ hiện hữu tại các nông hộ chưa đạt mức tối ưu.
- Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng TFP: Tỷ lệ tưới tiêu của đất lúa (chất lượng đất), tỷ lệ lao động qua đào tạo (chất lượng lao động), mức độ tiếp cận tín dụng, quy mô đất đai bình quân và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến tốc độ tăng TFP nông nghiệp vùng.
| Nhóm kết quả phân tích |
Phương pháp áp dụng |
Phát hiện và kết luận thực nghiệm chính |
| Quan hệ đầu vào - đầu ra dài hạn & ngắn hạn |
Mô hình kinh tế lượng bảng động PMG |
Tồn tại đồng liên kết dài hạn; tăng trưởng sản lượng phụ thuộc chủ yếu vào mở rộng quy mô vốn, lao động và đất đai; hệ số hiệu chỉnh sai số âm có ý nghĩa thống kê. |
| Lan tỏa khoa học – công nghệ |
Biến tương tác kinh tế lượng |
Khoa học – công nghệ tác động lan tỏa tích cực đến giá trị sản lượng thông qua vốn và lao động. |
| Phân rã năng suất các yếu tố tổng hợp |
Phân tích màng bao dữ liệu (DEA) & Malmquist |
Tăng trưởng TFP đạt được chủ yếu nhờ dịch chuyển hàm sản xuất (thay đổi công nghệ - TC), hiệu quả kỹ thuật (TEC) có xu hướng suy giảm. |
| Yếu tố tác động đến TFP |
Hồi quy dữ liệu bảng |
Chất lượng đất (tưới tiêu), chất lượng lao động, tiếp cận tín dụng, quy mô trang trại và chỉ số PCI tác động cùng chiều đến TFP. |
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Chương 5 tóm tắt các phát hiện thực nghiệm cốt lõi, đối chiếu với các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu ban đầu. Tác giả kiến nghị hệ thống giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy nông nghiệp ĐBSCL chuyển dịch từ mô hình thâm dụng đầu vào sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và chất lượng, nâng cao hiệu quả kỹ thuật và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:
- Hệ thống hóa và tích hợp cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, năng suất và tiến bộ công nghệ áp dụng cho một vùng kinh tế sinh thái nông nghiệp đặc thù trong bối cảnh chịu tác động kép của biến đổi khí hậu và can thiệp nguồn nước thượng nguồn.
- Cung cấp khung phân tích kết hợp giữa phương pháp tham số (mô hình bảng động PMG) và phi tham số (chỉ số Malmquist DEA) trên cùng một bộ dữ liệu chuỗi thời gian dài (1995–2020), làm rõ đồng thời quan hệ cân bằng dài hạn, biến động ngắn hạn và bản chất cấu thành của TFP.
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động lan tỏa của khoa học – công nghệ thông qua vốn và lao động, đồng thời khẳng định vai trò của thể chế quản lý nhà nước cấp địa phương (đo lường bằng chỉ số PCI) đối với chất lượng tăng trưởng nông nghiệp (TFP).
Các phát hiện thực tiễn và hàm ý chính sách:
- Bản chất tăng trưởng: Nông nghiệp ĐBSCL trong giai đoạn 1995–2020 vẫn mang đặc trưng tăng trưởng theo quy mô đầu vào (chiều rộng). Do dư địa gia tăng đất đai và lao động đang cạn kiệt, việc chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa vào TFP (chiều sâu) là yêu cầu tất yếu.
- Động lực TFP: Tăng trưởng TFP phụ thuộc vào thay đổi công nghệ (TC) nhưng bị kìm hãm bởi sự sụt giảm hiệu quả kỹ thuật (TEC). Điều này phản ánh khoảng cách giữa công nghệ tiềm năng và thực hành sản xuất thực tế của nông dân.
- Giải pháp về vốn con người và khuyến nông: Đẩy mạnh đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật canh tác thích ứng để nâng cao hiệu quả kỹ thuật của nông hộ, giúp nông dân khai thác tối đa công nghệ sẵn có.
- Giải pháp đất đai và cơ sở hạ tầng: Thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai hợp lý để mở rộng quy mô nông hộ (farm size); hoàn thiện hệ thống thủy lợi chủ động cấp thoát nước ngọt và kiểm soát mặn theo tinh thần Nghị quyết số 120/NQ-CP và Quyết định số 633/QĐ-TTg.
- Giải pháp tài chính và quản trị: Nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức phục vụ đầu tư công nghệ mới; cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực quản lý điều hành kinh tế của chính quyền các địa phương (nâng cao chỉ số PCI).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do hệ thống thống kê chính thức của Việt Nam và các địa phương không tách riêng số liệu GDP/GRDP cho từng phân ngành cụ thể (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và khai thác thủy sản), luận án chỉ có thể đo lường và ước lượng trên số liệu tổng gộp toàn ngành nông nghiệp ĐBSCL. Do đó, nghiên cứu chưa thể tính toán chỉ số TFP riêng biệt cũng như chưa xác định được mức đóng góp cụ thể của từng phân ngành vào TFP toàn ngành.
- Luận án chưa định lượng đầy đủ các chi phí ngoại ứng tiêu cực về môi trường (như suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước do hóa chất nông nghiệp) vào hàm sản xuất và tính toán TFP xanh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khi hệ thống thống kê hoàn thiện việc phân tách số liệu cấp phân ngành, các nghiên cứu tiếp theo cần lượng hóa riêng TFP cho từng ngành hàng chủ lực (lúa gạo, trái cây, thủy sản).
- Mở rộng mô hình nghiên cứu theo hướng tích hợp các chỉ tiêu tăng trưởng xanh, tính toán TFP có điều chỉnh theo các tác động ngoại ứng môi trường và chi phí tài nguyên trong điều kiện biến đổi khí hậu gia tăng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Hữu ích trong việc tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa mô hình kinh tế lượng bảng động PMG (Panel ARDL) và kỹ thuật phân tích bao dữ liệu DEA Malmquist trên dữ liệu bảng vĩ mô cấp tỉnh; tham khảo cách tiếp cận phân rã nguồn gốc tăng trưởng và kiểm định các mối quan hệ lan tỏa công nghệ.
- Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn - IPSARD, Ủy ban nhân dân và Sở Nông nghiệp 13 tỉnh thành ĐBSCL): Cung cấp các luận cứ thực nghiệm phục vụ việc rà soát quy hoạch sản xuất, điều chỉnh cơ chế phân bổ vốn đầu tư công, chính sách tín dụng nông nghiệp và các chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 120/NQ-CP phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái.
Câu hỏi thường gặp
1. Tăng trưởng nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 1995 – 2020 chủ yếu dựa vào nguồn gốc nào?
Kết quả ước lượng từ mô hình bảng động PMG trong luận án chỉ ra rằng tăng trưởng nông nghiệp ĐBSCL giai đoạn 1995 – 2020 chủ yếu là tăng trưởng theo chiều rộng (tăng trưởng theo quy mô). Tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào sự gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào truyền thống gồm vốn vật chất, lao động và diện tích đất đai hơn là sự cải thiện hiệu quả kỹ thuật.
2. Động lực chính thúc đẩy sự thay đổi năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) của nông nghiệp ĐBSCL là gì?
Qua kỹ thuật phân tích bao dữ liệu (DEA) và chỉ số Malmquist, luận án xác định động lực chính của tăng trưởng TFP là sự thay đổi công nghệ (Technical Change - TC, phản ánh sự dịch chuyển ra ngoài của đường giới hạn khả năng sản xuất). Ngược lại, hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency Change - TEC) có xu hướng sụt giảm, đóng vai trò kìm hãm mức tăng trưởng TFP chung.
3. Vì sao luận án không tính toán TFP riêng cho từng ngành hàng trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản?
Luận án sử dụng cách tiếp cận vĩ mô dựa trên số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê và các địa phương. Do hệ thống dữ liệu quốc gia không công bố số liệu GDP/GRDP riêng biệt cho từng phân ngành (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) ở cấp tỉnh xuyên suốt giai đoạn 1995 – 2020, luận án buộc phải phân tích trên dữ liệu tổng gộp toàn ngành nông nghiệp.
4. Mức đóng góp của GDP nông nghiệp ĐBSCL vào GDP nông nghiệp toàn quốc trong giai đoạn 2016 – 2020 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn trong văn bản, tỷ lệ đóng góp GDP Nông – Lâm – Thủy sản của ĐBSCL vào tổng giá trị GDP nông nghiệp cả nước trong 5 năm (2016 – 2020) lần lượt là: 32,24% (năm 2016); 32,40% (năm 2017); 32,77% (năm 2018); 33,28% (năm 2019) và 31,71% (năm 2020).
5. Những yếu tố nào tác động có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng TFP nông nghiệp ĐBSCL theo kết quả hồi quy?
Mô hình thực nghiệm của luận án khẳng định các yếu tố tác động tích cực đến tăng trưởng TFP gồm có: chất lượng đất đai (đo bằng tỷ lệ diện tích đất lúa có hệ thống tưới tiêu), chất lượng lao động (tỷ lệ lao động qua đào tạo), khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ nông nghiệp, quy mô đất canh tác bình quân hộ (farm size) và năng lực điều hành kinh tế - hành chính cấp địa phương (đo lường qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lương đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu đặt ra thông qua việc kết hợp mô hình kinh tế lượng bảng động PMG và kỹ thuật phân tích bao dữ liệu DEA trên chuỗi số liệu 13 tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1995 – 2020. Kết quả nghiên cứu xác nhận nông nghiệp ĐBSCL vẫn phụ thuộc chủ yếu vào việc tích lũy các yếu tố đầu vào truyền thống và chỉ ra sự sụt giảm hiệu quả kỹ thuật đang kìm hãm tiềm năng tăng trưởng TFP của vùng. Các phát hiện thực nghiệm về vai trò của chất lượng đất đai, vốn con người, tiếp cận tín dụng và chỉ số PCI cung cấp căn cứ thực tế để các địa phương hoạch định chính sách chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu.