Chương 1. Giới thiệu Tác giả giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn, kết cấu luận văn. Tổng quan lý thuyết và khung phân tích Tác giả trình bày các nội dung: các khái niệm, định nghĩa, các lý thuyết có liên quan đến thu nhập hộ gia đình, giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm liên quan và khung phân tích của đề tài. Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội ĐBSCL và phương pháp nghiên cứu Chương này, tác giả trình bày khái quát tình hình kinh tế - xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long; trình bày về dữ liệu, phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Phân tích kết quả nghiên cứu Nội dung chương này tác giả phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội của hộ gia đình trong vùng nghiên cứu; tính toán đường cong Lorenz và hệ số Gini từ đữ liệu thu thập được; phân tích sự khác biệt về thu nhập so với một số biến độc lập của mô hình; cuối cùng là báo cáo kết quả hồi quy và thảo luận. Kết luận và kiến nghị Chương này tác giả tóm lược lại toàn bộ kết quả nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Đồng thời, qua kết quả các vấn đề nghiên cứu kiến nghị và đề xuất những giải pháp về mặt chính sách có liên quan trong dé tai va cuối cùng là nêu những hạn chế của đề tài, đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. CHUONG 2: TONG QUAN LY THUYET VA KHUNG PHAN TiCH Ở Chương 2 tác giả sẽ trình bày khảo lược các lý thuyết có liên quan, gồm các nội dung: các khái niệm, định nghĩa liên quan đến thu nhập và mức sống, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư, các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trong nước và thế giới có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài; khung phân tích của đề tài.1 Khảo lược các lý thuyết có liên quan 2.1 Các khái niệm và định nghĩa 2.1 Hộ gia đình Hộ gia đình là một trong những khái niệm chưa có một định nghĩa thống nhất giữa các mước trên thế giới.
Tùy thuộc vào bản sắc văn hóa phong tục tập quán của từng tô chức từng quốc gia từng châu lục mà có những cách định nghĩa khác nhau. Phòng thống kê Liên Hiệp Quốc trích trong Nguyễn Nhật Trường (2015) đã đưa ra khái niệm về hộ gia đình bao gồm hộ gia đình một người và hộ gia đình nhiều người. Đây có thê được xem là định nghĩa của nhiều nghiên cứu sử dụng, cụ thể: hộ gia đình một người được định nghĩa như là một sự sắp xếp, trong đó một thành viên cung cấp thực phẩm và các yếu tố cần thiết cho nhu cầu bản thân mà không cần kết hợp với bắt cứ một người nào khác đề tạo thành một phần của một hộ gia đình đa thành viên; hộ gia đình nhiều người được định nghĩa là một nhóm của cả hai hay nhiều thành viên cùng chung sống với nhau và cùng lập dự phòng chung cho thực phẩm và các yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống. Những người trong hộ gia đình này có thể góp chung thu nhập của họ và hình thành ngân sách chung với mức độ nhiều hay ít; những người này có thê có mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ; hoặc một sự kết hợp của những người liên quan và không liên quan.
Hộ gia đình bao gồm một nhóm hay một người ở chung và ăn chung. Những người này có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt; có thể có hoặc không có quỹ thu, chỉ chung (Tổng cục Thống kê, 2015). Các định nghĩa trên có thê được sử dụng để xác định một hộ gia đình với các đặc điểm chính, đó là: (1) Hộ gia đình là tập hợp một nhóm người có chung huyết thống với nhau hay không chung huyết thống. (2) Ăn chung và góp chung thu nhập tạo nguồn ngân sách chung được phân phối và sử dụng chung để mua lương thực phẩm.
(3) Có thê sống chung với nhau hoặc không sống chung với nhau trong một ngôi nhà. (4) Có thể cùng nhau tham gia vào quá trình sản xuất. (5) Nhất thiết hộ gia đình là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có vốn và kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, có nguồn lao động và phân công lao động chung, nhưng hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ gia đình có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, nhà nước.2 Chủ hộ Chủ hộ là người mà căn cứ các đặc điểm cá nhân của họ, người ta có thé phân loại và phân tích các thông tin thu thập được từ hộ gia đình do người đó làm chủ hộ. Đây có thé là người có thu nhập lớn nhất trong hộ, chủ sở hữu căn nhà hoặc là người đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ (Ủy ban châu Âu, 2010).
Chủ hộ được hiểu là người có vai trò quản lý, điều hành gia đình (nhưng không nhất thiết), giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ. Thông thường thì chủ hộ là người có thu nhập cao nhất trong hộ, năm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên (Tổng cục Thống kê, 2015).3 Mức sống Mức sống là một phạm trù kinh tế xã hội phức tạp và phong phú về mặt nội dung. Mức sống phản ánh quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về mức sống.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt năm 1994 cho rằng: Mức sống là khái niệm chỉ mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tỉnh thần. Mức sống được thể hiện ở khối lượng các dịch vụ, vật phẩm kể từ loại thiết yếu nhất về ăn, ở, mặc, đi lại, bảo vệ sức khoẻ, v. cho tới những nhu cầu cao nhất liên quan tới việc thoả mãn các đòi hỏi về tỉnh thần, đạo đức, thâm mỹ. Theo Đại từ điển Tiếng việt, năm 1999 cho rằng: Mức sống là mức đạt được trong chi dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tỉnh thần.
Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, năm 2006: Mức sống là điều kiện cao hay thấp của sự sinh hoạt hằng ngày (Dương Thị Hoàng Trân, 201 1). Theo Wikipedia tiếng Việt, mức sống là một khái niệm liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội nói chung và nhu cầu của con người nói riêng, các nhà nghiên cứu có hai cách tiếp cận đối với khái niệm này. Cách thứ nhất lấy mức thỏa mãn nhu cầu của con người làm cơ sở xem xét. Cách thứ hai chọn tập hợp các điều kiện sống làm đối tượng nghiên cứu, trong đó bao gồm điều kiện xã hội, chính trị, mức sản xuất chung, môi trường v.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu mức sống là sự thoả mãn những nhu cầu về mặt tinh thần, vật chất của con người, nếu một người có mức sống càng cao thì càng có nhiều khả năng được hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội tạo ra và có điều kiện tốt dé phát triển cá nhân.4 Thu nhập và chỉ tiêu Thu nhập của hộ gia đình, theo Tổng cục Thống kê (2015) là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (1) Thu tiền công tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chỉ phí sản xuất và thuê sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông lâm nghiệp, thủy sản đã trừ chỉ phí sản xuất và thuê sản xuất; (4) Thu khác được tính vào thu nhập không tính tiền rút tiết kiệm bản tài sản vay thuần túy; thu nợ và các khoản chuyên nhượng vốn nhận được. Theo Tổng cục Thống kê (2015) chỉ tiêu hộ gia đình là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định bao gồm cả tự sản tư tiêu về lương thực, thực phẩm phi lương thực, thực phẩm và các khoản chỉ tiêu khác của hộ. Các khoản chỉ tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiền tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự.5 Nông thôn Khái niệm về nông thôn tùy theo điều kiện của từng quốc gia, khái niệm này luôn biến động theo thời gian và có nhiều nghĩa khác nhau về tiêu chí. Nông thôn là một phần lãnh thổ với dân cư chủ yếu làm nghề nông nghiệp, có môi trường tự nhiên, môi trường sống khác biệt với thành thị.
Tuy nhiên với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, cảnh quan ở nhiều vùng nông thôn không khác so với nhiều thành thị, thu nhập tăng lên, đời sống người dân ngày một thay đổi theo hướng văn mỉnh hơn (Cao Trọng Danh, 2015). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phó, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã (Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21/8/2009). Như vậy có thể khái quát đặc trưng cơ bản của nông thôn là: (1) là vùng có thu nhập thấp, trình độ dân cư thấp, điều kiện sống kém so với thành thị; (2) là cộng đồng xã hội mà chủ yếu người dân hoạt động sản xuất với nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp; (3) có cơ sở hạ tầng: đường, điện, cầu, cống, nước sạch và điều kiện phúc lợi khác như giáo dục, y tế v. thấp hơn so với thành thị.2 Hệ thống một số chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư Mức sống dân cư được thể hiện qua các chỉ tiêu như thu nhập của hộ gia đình hay chỉ tiêu của hộ gia đình, tỷ lệ đói nghèo, bình đẳng xã hội và các chỉ tiêu khác như: chất lượng các dịch vụ y tế và giáo dục, điều kiện nhà ở, điện nước và tiếp cận cơ sở hạ tầng (Tổng cục Thống kê, 2015).1 GDP và GDP bình quân đầu người: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm.