Đặt vấn đề nghiên cứu Trải qua hàng chục năm đổi mới, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đều đã có những thành tựu nhất định trong nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định vai trò và vị thế trong sự nghiệp đưa đất nước trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thủ đô Hà Nội với sự phát triển nhanh chóng nhiều cao ốc cùng với các khu đô thị lớn mọc lên đã làm thay đổi diện mạo Thủ đô tuy nhiên kéo theo đó là gia tăng dân số khiến cho hệ thống giao thông đô thị quá tải. Các dự án (DA) mở rộng mạng lưới đường bộ và nâng cấp hệ thống giao thông công cộng (GTCC) cho đến nay vẫn chưa mang lại hiệu quả. Với hơn 9 triệu dân, hệ thống GTCC của Hà Nội rất thiếu thốn khi mà số lượng xe buýt, một tuyến buýt nhanh, khi mà một tuyến đường sắt đô thị (ĐSĐT) chưa thể giải quyết được như trong Hình 1.
Để giải quyết những khó khăn về hạ tầng giao thông (HTGT), Hà Nội phải triển khai một loạt các giải pháp như: triển khai các tuyến ĐSĐT, hệ thống GTCC; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý trật tự giao thông; phổ biến, giải thích rộng rãi về lợi ích để mọi người ưu tiên lựa chọn sử dụng phương tiện công cộng; hoàn thiện, xây dựng nâng cao chất lượng vận tải hành khách công cộng. Theo Quy hoạch chung xây dựng thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định 1259/QĐ-TTg ngày 26 tháng 7 năm 2011, mạng lưới ĐSĐT ở Hà Nội sẽ gồm 8 tuyến với chiều dài lên đến gần 318 km [1]. HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 1 GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS.
ĐỖ TIẾN SỸ Hình 1. Ùn tắc bên dưới tuyến tàu điện Cát Linh – Hà Đông (Nguồn: laodong. HCM là đầu tàu về kinh tế, khoa học - công nghệ; điểm đến giao thương và hội nhập quốc tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Bên cạnh những ưu thế về kinh tế – xã hội so với các địa phương khác, thành phố đã, đang và sẽ tiếp tục phải giải quyết các bài toán nan giải, trong đó nổi cộm là chất lượng và khả năng đáp ứng của HTGT đô thị.
Thực tế giao thông ở thành phố cho thấy nền kinh tế thị trường mang đến những thay đổi lớn, gia tăng dân số do sự dịch chuyển lao động từ nông thôn lên thành thị, hành vi và lối sống của người dân thay đổi dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu hướng toàn cầu hóa. Nhu cầu đi lại của người dân ngày một tăng, HTGT đô thị hiện tại không theo kịp để phục vụ. Với mục tiêu đáp ứng yêu cầu và tạo động lực cho phát triển của Thành phố, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2013 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải về quy hoạch phát triển giao thông vận tải TP. HCM đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 (Hình 1.
là bản HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 2 GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS. ĐỖ TIẾN SỸ đồ quy hoạch mạng lưới ĐSĐT theo QĐ568/QĐ-TTg [3]). Trong đó, gồm 6 tuyến tàu điện và 03 tuyến xe điện trong đó có 02 tuyến Monorail và 01 tuyến Tramway.
Bản đồ quy hoạch tổng thể hệ thống ĐSĐT tại TP.HCM (Nguồn: Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR) [4]) HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 3 GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS. ĐỖ TIẾN SỸ Mặc dù vậy tính đến thời điểm hiện nay, mẫu số chung của các DA ĐSĐT vẫn là chậm tiến độ, đội vốn nhiều lần gây bức xúc dư luận. Các tuyến ĐSĐT ở Hà Nội như tuyến Cát Linh - Hà Đông bắt đầu thực hiện từ tháng 11 năm 2008, dự kiến hoàn thành tháng 11 năm 2013 nhưng phải đến cuối năm 2021 mới đưa vào khai thác thương mại.
DA ĐSĐT thí điểm thành phố Hà Nội, đoạn Nhổn - ga Hà Nội được khởi công năm 2009; thời gian hoàn thành DA năm 2022 nhưng vướng giải phóng mặt bằng (GPMB) tại các nhà ga ngầm làm phát sinh khiếu nại từ nhà thầu nên lùi thời gian vận hành toàn tuyến đến năm 2027 [5]. Còn đối với DA xây dựng tuyến ĐSĐT số 1 Yên Viên - Ngọc Hồi và DA đầu tư xây dựng tuyến ĐSĐT số 2, đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo vẫn đang chậm trễ do phải rà soát lại pháp lý và thay đổi thiết kế để phù hợp với với quy định của Luật Đường sắt, Luật Ngân sách, Luật Quản lý nợ công và Luật Di sản [6], [7].HCM cũng lâm vào tình cảnh tương tự cụ thể là DA xây dựng tuyến ĐSĐT số 1, tuyến Bến Thành - Suối Tiên (Hình 1.) bắt đầu thực hiện từ năm 2007. Theo dự kiến, DA này sẽ đưa vào khai thác năm 2018. Do chậm trễ trong công tác GPMB và phải lập lại thiết kế kỹ thuật cho nhà ga trung tâm Bến Thành nhằm tích hợp với các tuyến khác cùng những diễn biến khó lường của dịch Covid-19 đã làm gián đoạn toàn DA.
Thời gian kết thúc xây dựng được lùi tới cuối năm 2023. Đối với DA xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2, tuyến Bến Thành - Tham Lương được phê duyệt cách đây 11 năm (2010) được kỳ vọng giải bài toán ách tắc ở cửa ngõ Tây Bắc TP. Tuy nhiên, công tác GPMB chậm, hợp đồng tư vấn gián đoạn cùng vướng mắc trong việc sắp xếp nguồn vốn đang là ba “cửa ải” cản trở ngày khởi công và có thể lùi thời gian vận hành thương mại đến năm 2030 [5]. Phần lớn các tuyến ĐSĐT của hai thành phố đều bắt đầu triển khai cách đây trên 10 năm nhưng thực tế hiện nay, cả Hà Nội và TP.HCM chỉ có một tuyến hoạt động thương mại với nhiều nguyên nhân chậm trễ khác nhau.
Có thể nói việc hoàn thành các tuyến ĐSĐT đang triển khai và chuẩn bị cho các tuyến ĐSĐT còn lại trong tương lai đang là một thử thách không nhỏ đối với ngành giao thông Việt HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 4 GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS. ĐỖ TIẾN SỸ Nam nói chung và các thành phố lớn nói riêng. Dù gặp không ít khó khăn song việc xây dựng và đưa vào khai thác mạng lưới ĐSĐT chắc chắn sẽ góp phần tích cực trong việc kéo giảm ùn tắc giao thông, đẩy nhanh tốc độ lưu thông và hoàn thiện bộ mặt HTGT thành phố.
Đoàn tàu tuyến ĐSĐT số 1, tuyến Bến Thành – Suối Tiên (Nguồn: Minh Hòa [8]) Từ thực tế kể trên, cần có một tài liệu nghiên cứu về sự chậm trễ của các DA xây dựng tuyến ĐSĐT tại Việt Nam như là một công cụ tham vấn cho chủ đầu tư (CĐT), cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay các đơn vị tư vấn, nhà thầu để thực hiện các DA tương tự một cách hiệu quả, đúng tiến độ. Do đó, nghiên cứu này xác định và đánh giá các nguyên nhân gây chậm trễ các dự án ĐSĐT tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Với thực tế kể trên, để góp phần tìm ra phương hướng hợp lý, tác giả mong muốn sử dụng kết quả của tài liệu này với các mục tiêu cụ thể sau: - Đánh giá mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đến tiến độ thực hiện các dự án ĐSĐT; HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 5 GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS.
ĐỖ TIẾN SỸ - Thiết lập và xếp hạng các nguyên nhân gây ra sự trì hoãn cho các DA ĐSĐT tại Việt Nam; - Đề xuất các giải pháp để hạn chế các rủi ro tiềm ẩn đã được xác định của nghiên cứu. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu: Yếu tố tác động đến tiến độ của các DA ĐSĐT tại Việt Nam. - Thời gian nghiên cứu: từ ngày 05/ 9/2022 đến ngày 18/12/2022. - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được triển khai thực hiện với những người có kinh nghiệm đã và đang làm các công tác liên quan đến các DA ĐSĐT gồm Ban Quản lý Đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, các Sở quản lý chuyên ngành, Tư vấn thiết kế và Nhà thầu thi công đã và đang đóng góp công sức cho các DA ĐSĐT.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Về mặt thực tiễn: - Tổng hợp, phân tích, nhận xét về quy trình tổ chức thực hiện và trách nhiệm cụ thể của các cơ quan chuyên môn một cách khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước, Ban Quản lý Dự án (BQLDA), CĐT nắm rõ các nguyên do gây ra chậm trễ cho các dự án ĐSĐT; - Hiểu rõ thực trạng các khó khăn, trở ngại đã, đang và có thể gặp phải khi triển khai các DA ĐSĐT tại Việt Nam; - Nhận định được mức độ ưu tiên giữa các nguyên nhân cũng như nguyên nhân nào là nguyên nhân cốt lõi dễ hình thành các nguyên nhân khác để kiến nghị các giải pháp xử lý, nhằm kiểm tốt các khâu trong quá trình thực hiện DA; - Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp đáng kể vào quá trình quy hoạch và dựng xây hệ thống GTVT hành khách công cộng tại các thành phố lớn. Nó cũng có chức năng của một công cụ tham vấn cho các cơ quan nhà nước thẩm quyền và các bên liên quan khác. HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 6 GVHD: TS.
NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS. Về mặt học thuật: - Trên cơ sở các nguyên nhân trì hoãn đã được phát hiện trong nghiên cứu này, xây dựng chiến lược thực hiện sắp tới nhằm cải thiện hiệu suất thực hiện các DA tiếp theo; - Đề xuất các phương hướng nhằm giải quyết những tồn đọng đã và đang diễn ra nhằm thúc đẩy tiến độ và sớm đưa DA về đích. - Nghiên cứu nhằm làm rõ hơn những bất cập trong các quy định pháp luật (QĐPL) hiện hành về các dự án cấp đặc biệt này và các dự án có tính chất tương tự. Góp phần cải cách các chính sách pháp luật sát với tình hình thực tế có tính khả thi cao, cho phép CĐT có các quyền tự chủ khi triển khai DA để rút ngắn các quy trình, thủ tục lấy ý kiến các Bộ, ngành trung ương với mục tiêu hoàn thành DA đúng tiến độ.
- Là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu ở các địa phương khác cũng như các đề tài tương tự. HVTH: NGUYỄN NAM PHƯƠNG –2070559 Trang 7 GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI NGHĨA PGS. ĐỖ TIẾN SỸ CHƯƠNG 2.
Các nội dung cơ bản về ĐSĐT và chậm trễ: 2.