Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Mwita (2016) đã phân tích mức độ hiệu quả lợi nhuận của nông hộ trồng chanh dây vàng ngọt quy mô nhỏ, xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội và thể chế đến hiệu quả lợi nhuận của nông dân trồng chanh dây vàng ngọt, và đo lường việc sử dụng tín dụng của các hộ nông dân trồng chanh dây vàng ngọt. nông dân trồng chanh dây vàng ngọt ở tiêu hạt Mbeere South.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu sơ cấp thu được từ 90 hộ nông dân sản xuất nhỏ thông qua bảng câu hỏi ban cầu trúc. Dữ liệu thu được được phân tích bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) và thống kê mô ta bằng phần mềm STATA 11. Nghiên cứu cho thay mức hiệu quả lợi nhuận nằm trong khoảng từ 23% đến 90% với giá trị trung bình là 76%, nghĩa là khoản lỗ lợi nhuận ước tính là 24% do sự thiếu hiệu quả về kỹ thuật và phân bô. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm canh tác, thành viên các tô chức khuyến nông và khả năng tiếp cận thông tin thị trường ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả lợi nhuận.
Do đó, khuyến nghị rằng các khoản đầu tư cho giáo dục khuyến nông nên được nhân rộng thông qua các tổ chức sản xuất đề cải thiện năng suất nông nghiệp và tiếp thị nông nghiệp thông qua tìm kiếm và sử dụng thông tin tiếp thị phù hợp. Jonah và cộng sự (2020) đã nghiên cứu hiệu quả lợi nhuận của việc sản xuất mè ở bang Yobe, Nigeria. Nghiên cứu đã khảo sát 180 nông dân trồng mè tại 12 khu vực trồng mè lớn nhất của bang Yobe. Thống kê mô tả, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên và hồi quy đa biến được sử dụng dé phân tích dữ liệu.
Kết quả các mức hiệu quả lợi nhuận cho thấy hiệu quả lợi nhuận trung bình là 88,28%. Các yếu tố anh hưởng đến hiệu quả lợi nhuận là (1) Tác động nghịch biến bao gồm: chi phí phân bón, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, chi phí lao động, trình độ học van, tiếp cận các dich vụ mở rộng, tiếp cận tín dụng; (2) Tác động đồng biến bao gồm: chỉ phí đất canh tác, thu nhập phi nông nghiệp và tiếp cận thông tin thị trường. Nghiên cứu của Adnan và cộng sự (2021) đã xem xét hiệu quả lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thông qua khảo sát 350 người trồng ngô lai ở Bangladesh bằng cách sử dụng hàm biên lợi nhuận và mô hình hồi quy. Nghiên cứu chỉ ra rằng sản xuất ngô mang lại lợi nhuận ròng trung bình là 32.392 BDT (BDT hay Taka Bangladesh - là đơn vi tiền tệ của của Bangladesh, I Taka = 219,72 VND, (năm 2022)) /mẫu Anh (1 mẫu Anh acre = 0,404 ha) và ty lệ chi phi lợi ích lớn hơn 2.
Kết quả cũng cho thấy điểm hiệu quả lợi nhuận là 0,71, cho thay mức kém hiệu quả lợi nhuận lả 29%. Lợi nhuận ròng trung bình là 32.392,40 BDT/mau Anh và lãi 16 16.975,99 BDT/mẫu Anh. Nghiên cứu cho thấy tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm khuyến nông và thu nhập phi nông nghiệp là những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả về lợi nhuận. Nghiên cứu này gợi ý rằng hiệu quả canh tác có thé được tăng lên đáng kê bằng cách nâng cao trình độ giáo dục và các dịch vụ khuyến nông phù hợp.
Hơn nữa, các bước can thiết dé thúc đây một hệ thong quản lý đất hiệu qua với các công trình thủy lợi tốt và tăng cường đào tạo nông nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả. Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới tập trung phân tích hiệu quả tài chính của sản xuất nông nghiệp nói chung và cây trồng nói riêng. Các nghiên cứu đã tính toán các chỉ số về lợi nhuận và hiệu quả lợi nhuận. Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính, hiệu quả lợi nhuận của các mô hình sản xuất nông nghiệp.
Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu Dương Ngọc Thành và Nguyễn Vũ Phong (2014) đã sử dụng số liệu từ cuộc phỏng vấn 200 nông dân trồng xoài tại tỉnh Đồng Tháp, trong đó có 134 nông hộ trồng xoài theo mô hình truyền thống và 66 nông hộ trồng xoài của mô hình tiêu chuân GAP (Thực hành nông nghiệp tốt). Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của hai mô hình sản xuất xoài theo GAP và truyền thống, và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân trồng xoài tại tỉnh Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sản xuất xoài theo mô hình tiêu chuẩn GAP có doanh thu, lợi nhuận và chỉ số tài chính có hiệu quả cao hơn so với mô hình sản xuất xoài truyền thống. Thông qua phân tích mô hình hồi quy đa biến, sản xuất xoài của nông dan bị tác động bởi các yếu tố: chi phí đầu tư, diện tích xoài, số ngày công lao động gia đình, mật độ trồng, sử dụng bao trái.
Nghiên cứu cũng đề xuất 2 nhóm giải pháp: nhóm (i) các giải pháp phát triển sản xuất, và (ii) giải pháp nhóm tiêu thụ sản phẩm dé nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ xoài của nông dân. Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt và cộng sự (2020) đã nghiên cứu hiệu quả lợi nhuận của người trồng xoài ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã sử dụng Cobb-Douglas và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên dé ước tính mức hiệu qua lợi nhuận của 1.476 quan sát mau (526, 500 và 450 quan sat cho các mua 1, 2 va 3, tương ứng) thông qua bảng câu hỏi có cau trúc. Kết qua phân tích cho thay, thời vụ thu hoạch của người trồng xoài diễn ra quanh năm.
Điểm khác biệt của nghiên cứu so với các nghiên cứu trước đây liên quan đến trái cây nhiệt đới là phân tích hiệu quả của 3 mùa thay vì chỉ tập trung vào hiệu quả của một mùa hay cả năm. Kết quả cho thấy vụ 1 đứng đầu về hiệu quả tài chính (đo lường qua thước đo lợi nhuận) (29,41%), tiếp đến là vụ 3 (28,97%) và vụ 2 (28,42%). Các yếu tố quyết định tích cực đến hiệu quả tài chính là kinh nghiệm canh tác, túi bọc, khả năng tiếp cận thị trường và mật độ cây trồng ở vụ 1; túi bọc, khả năng tiếp cận thị trường và mật độ cây trồng ở vụ 2; tín dụng khả năng tiếp cận, tiếp cận thị trường và mật độ cây trồng trong vụ 3. Mặt khác, các hạn chế đối với hiệu quả lợi nhuận là độ tuôi, khả năng tiếp cận tín dụng, thanh toán cho bán buôn nông sản đầu vào vào cuối vụ và phân loại hang bán trong vụ 1; độ tuổi, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận tín dụng, thanh toán bán buôn đầu vào khi kết thúc vụ và phân loại bán hàng trong vụ 2; và độ tuổi, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận tín dụng, thanh toán cho bán buôn đầu vào vào cuối vụ, gói hàng và phân loại bán hàng trong vụ 3.
Cao Văn Hơn và Nguyễn Lan Duyên (2020) đã nghiên cứu Ảnh hưởng của các yếu tô sản xuất đến hiệu quả tài chính trong canh tác lúa của nông hộ Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất dựa trên di liệu sơ cấp được thu thập ngẫu nhiên qua khảo sát trực tiếp 338 nông hộ trồng lúa ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp thuộc đồng bằng sông Cửu Long nhằm thể hiện mối quan hệ cũng như mức độ tác động của các yếu tố sản xuất đến hiệu quả tài chính trong canh tác lúa của nông hộ trong vùng. Kết quả ước lượng cho thấy hai yếu tô có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả tài chính là số năm kinh nghiệm trồng lúa, lợi nhuận từ trồng lúa; và các yếu tô có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu qua tài chính với các mức ý nghĩa khác nhau đó là Diện tích đất trồng lúa, Tổng chi phí đầu tư cho các yếu tô đầu vào, Thời gian sinh sống của chủ hộ, Địa bàn cư trú ở Cần Thơ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xác định được các biến không có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính bao gồm Quy mô hộ, Trình độ học vấn của chủ hộ, Số mảnh đất trồng lúa của nông hộ, Tín dụng, Tập huấn, Khoảng cách từ nhà ở của nông hộ đến thửa ruộng lúa lớn nhất, Tổng ngày công lao động làm việc trên ruộng lúa và Địa bàn cư trú ở An Giang.
Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả tài chính cho nông hộ trong vùng khảo sát thông qua tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao trình độ học vấn,. Nguyễn Văn Nhiều Em và Cao Quốc Nam (2020) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính các loại cây trồng trong mô hình nông nghiệp đô thị tại thành phó Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả các loại cây trồng nông nghiệp đô thị ở Sóc Trăng, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hiệu quả các mô hình trồng trọt đô thị tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Phương pháp phân tích được sử dụng là thống kê mô tả, phân tích tỷ số tài chính, phân tích mô hình hồi quy đa biến, ma trận SWOT.
Kết quả nghiên cứu cho thay đối với lúa lợi nhuận thu được của mô hình lúa 3 vụ là cao nhất khoảng 2. Đối với hoa mau và các loại cây khác thì cây cảnh mang lai lợi nhuận cao nhất đạt 49. Lợi nhuận của các loại cây trồng còn lại mang lai từ 1.791 đồng/1000 mỶ, trong đó cây màu đạt lợi nhuận 5. Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của mô hình canh tác lúa cho thấy, 4 biến anh hưởng có ý nghĩa đến lợi nhuận của mô hình lúa ở mức ý nghĩa 5% là biến học van, lượng phân dam, ngày công lao động gia đình và diện tích đất sản xuất.
Bên cạnh đó, tuổi và giới tính là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông hộ trồng màu tại thành phố Sóc Trăng. Các chiến lược được đề xuất dựa trên phân tích SWOT là cơ sở quan trọng dé phát triển hiệu quả các mô hình trồng trọt đô thị tại thành phố Sóc Trăng. Phạm Thanh Hiền và Phạm Công Hữu (2020) đã là phân tích hiệu quả tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận mô hình trồng he và hing cây chuyên canh của nông hộ dựa trên cơ sở khảo sát 120 nông hộ tai xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.