Mở đầu Khái quát về lý do chọn dé tai, mục tiêu nghiên cứu chung, mục tiêu cụ thể của đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu, cấu trúc bài luận Chương 2. Tong quan Trinh bay tông quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan, các tài liệu được sử dung dé tham khảo. Trình bày tổng quan về đặc điểm địa bản nghiên cứu, tình hình sản xuất bưởi da xanh, áp dụng mô hình hữu cơ trong sản xuất bưởi da xanh ở huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Nội dung và mô hình nghiên cứu Trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm: Lý thuyết nông hộ và kinh tế nông hộ, mô hình hữu cơ sinh học, các yêu tổ ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình hữu cơ sinh học trong sản xuất.
Trình bày mô hình nghiên cứu gom mô hình nghiên cứu, chọn mẫu nghiên cứu, thu thập số liệu, phân tích số liệu. Kết quả và thảo luận Tổng hợp và xử lý số liệu, thực hiện tính toán lập bảng biểu cần thiết từ thông tin mẫu điều tra dé so sánh hiệu quả kinh tế giữa hộ đã áp dụng và hộ không áp dụng mô hình hữu cơ sinh học trong sản xuất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình hữu cơ sinh học trong sản xuất bưởi da xanh của nông hộ tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Giải quyết các mục tiêu đã đề ra trong phần mục tiêu nghiên cứu. Kết luận và giải pháp Kết luận nội dung và kết quả nghiên cứu chính, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm mở rộng quy mô sản xuất bưởi da xanh theo mô hình hữu cơ sinh học của nông hộ.
CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Đỗ Văn Xê (2010) đã thực hiện nghiên cứu “So sánh hiệu quả kinh tế của 2 mô hình canh tác nông nghiệp tại huyện Gò Quao, tỉnh Tiền Giang”. Nghiên cứu này sử dung mô hình thu thập sé liệu, mô hình thống kê mô tả đánh giá hiện trạng của mỗi mô hình và mô hình trắc nghiệm giả thiết T-test đc áp dung dé so sánh sự khác biệt của các chỉ tiêu kinh tế của hai mô hình. Các yếu tố thuận lợi và khó khăn của từng mô hình dé quan sát và tổng hợp đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mỗi mô hình và đề ra các khuyến cáo phù hợp cho nông dân và chính quyền địa phương nhằm gia tăng thu nhập của người dân.
Kết quả phân tích kinh tế cho thấy mô hình nuôi tôm sú sau vụ Đông Xuân mang lại lợi nhuận cao hơn trồng 2 vụ lúa. Đây là hướng gia tăng lợi nhuận cho các gia đình có đủ vốn và nguồn lực lao động. Mặc dù chưa có nghiên cứu đầy đủ về rủi ro xảy ra dịch bệnh đối với nuôi tôm, nhưng quan sát chung cho thấy nuôi tôm sti mặc dù cho lợi nhuận cao nhưng cũng cần phải chú ý yếu tố này đề tránh that thoát. Theo nghiên cứu của Trần Thị Hậu (2014) về “Đánh giá khả năng quyết định trồng hồ tiêu an toàn tai tinh Gia Lai” cũng áp dụng mô hình phân tích lợi ích — chi phi, phân tích NPV và mô hình phân tích độ nhạy dé đánh giá hiệu quả kinh tế của cây hồ tiêu tại Gia Lai.
Kết qua cho thấy: tác giả đã phân tích lợi ích — chi phí đầu tư phân theo thời kỳ đầu cho mô hình canh tác gồm thời kỳ thiết kế ban đầu và thời kỳ cây bắt đầu cho ra hat dé thu hoạch. Tác giả đã phân tích và so sánh kết quả và hiệu quả sản xuất của cây hồ tiêu theo hai mô hình gồm mô hình an toàn và mô hình thông thường. Mô hình an toàn có giá tri NPV là 316.830 đồng và mô hình thông thường là 297.880 đồng; tỷ suất lợi nhuận mô hình tiêu an toàn là 2,03 cao hơn so với mô hình tiêu thông thường với tỷ suất là 2. Tỷ suất lợi nhuận/chi phí va tỷ suất lợi nhuận của mô hình hồ tiêu an toàn cao hơn so với mô hình tiêu thông thường.
Tác giả đã khang định mô hình tiêu an toàn có hiệu quả kinh tế cao hơn so với mô hình tiêu thông thường. Đồng thời, nghiên cứu cũng sử dụng mô hình logit dé đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng hồ tiêu an toàn của người dân trên địa bàn tỉnh, nhằm tạo cơ sở dé đạt được kết quả một cách chắc chắn và tin cậy hơn. Hoàng Văn Việt (2014) thực hiện nghiên cứu “Phân tích lợi ích tài chính của chuỗi giá trị bưởi da xanh tỉnh Bến Tre”. Nghiên cứu thực hiện tại tỉnh Bến Tre và thị trường tiêu thụ bưởi Da xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh, với mục tiêu phân tích hiện trạng hoạt động của chuỗi giá trị và đánh giá, so sánh hiệu quả kinh doanh bưởi Da xanh, từ đó đề xuất các chính sách nhằm phát triển ngành bưởi Da xanh Bến Tre một cách bền vững và gia tang thu nhập của các tác nhân, đặc biệt là người nông dân.
Nghiên cứu sử dụng lý thuyết liên kết chuỗi giá trị cua GTZ, kết hợp khung phân tích chuỗi giá trị vì người nghèo của M4P và khung phân tích tài chính chuỗi giá trị của FAO đề phân tích mối quan hệ giữa các tác nhân, phân tích chi phí và lợi nhuận, giá trị gia tăng và đóng góp của chuỗi giá trị. Kết quả phân tích cho thấy chuỗi giá trị bưởi Da xanh Bến Tre mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao và thu nhập cho các tác nhân tốt, đặc biệt là người nông dân, và phân b6 lợi nhuận giữa các tác nhân công bang va hợp lý. Nghiên cứu chỉ ra bưởi Da xanh có giá trị kinh tế cao nhưng khó khăn nhất hiện nay là van đề sâu bệnh và giống chất lượng không cao. Trần Sỹ Hân (2017), thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng bưởi da xanh tại xã sông xoài, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”, tác giả đi sâu phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình trồng bưởi da xanh, thông qua việc đánh giá lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của mô hình và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng bưởi da xanh.
Từ đó giúp cho chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp và người dân địa phương thấy được hiệu quả mô hình trồng bưởi da xanh mang lại những gì. Đồng thời đề xuất giải pháp dé nâng cao hiệu qua mô hình trồng bưởi da xanh được bền vững và thích hợp với thực tiễn địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chi phí trung bình đầu tư trong giai đoạn xây dựng cơ bản cho 1 ha đất trồng bưởi Da xanh là 106,79 triệu đồng/ha (đã tính khẩu hao). Năng suất bình quân đạt được 21,75 tan/ha, giá bán bình quân đạt 29.
Lợi nhuận của mô hình trồng bưởi Da xanh đem lại bình quân 362,8 triệu đồng/ha. Bên cạnh đó, mô hình bưởi Da xanh giúp thu hút nhiều 3 lao động nhàn rỗi, thậm chí còn tạo công ăn việc làm cho cả phụ nữ và người lớn tuổi, góp phần tăng thu nhập cho nông hộ. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất bưởi trong dai hạn kha cao, có NPV = 145,11 triệu đồng và IRR đạt 35,77%, cho thay mô hình chuyên canh bưởi da xanh đem lại hiệu quả kinh tế cao. Qua mô hình hồi quy cho thấy các yêu tố như: trình độ học vấn, kinh nghiệm, điện tích đất, giá bán, vay tin dụng, số lần tham gia tập huấn khuyến nông, việc tiếp cận thông tin nông nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định tham gia mô hình trồng bưởi da xanh trên địa bàn xã Sông Xoài.
Hồ Thị Kim Phụng (2017) thực hiện đề tài “Phan tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác cà phê của các nông hộ tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng”. Qua nghiên cứu cho thấy: tỷ suất lợi nhuận của nhóm hộ sử dụng phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ vi sinh có ưu thế hơn so với nhóm hộ chỉ sử dụng phân vô cơ. Đồng thời, mô hình hồi quy Logistic được sử dụng dé phân tích các yếu t6 ảnh hưởng đến quyết định sử dụng phân hữu cơ vi sinh. Kết quả phân tích cho thấy: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng phân hữu cơ vi sinh của nông hộ là tham gia hội thảo về khuyến nông, giá phân bón vô cơ trên thị trường, giá phân hữu cơ vi sinh, mức độ tin tưởng vào phân hữu cơ vi sinh, diện tích trồng cà phê, đặc điểm dân tộc.
Từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sử dụng phân hữu cơ vi sinh của các nông hộ tại địa bản. Huỳnh Văn Hién (2020) đã thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình liên kết trong nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam”. Nghiên cứu sử dụng bảng phỏng van cấu trúc kết hợp chọn hộ ngẫu nhiên phân tang dé thu số liệu từ 271 cơ sở nuôi cá tra với các hình thức liên kết khác nhau. Mô hình hồi qui nhị phân (Binary logistic) được sử dung dé phân tích các yêu tố ảnh hướng đến mô hình liên kết.
Kết qua phân tích của mô hình hồi qui đã xác định được 4 yếu tố có ảnh hưởng tới liên kết của mô hình nuôi cá được xếp theo thứ tự quan trọng từ cao đến thấp gồm trình độ học vấn của chủ cơ sở, diện tích nuôi, lợi nhuận và giá thành. Tuy nhiên, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro giữa các bên có liên quan cần phải được quan tâm dé mô hình liên kết 6n định và phát triển lâu dài. Bên cạnh, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nuôi cá tra theo hình thức gia công cho nha máy chế biến có năng suất (517 tan/ha/vy) và tỷ suất lợi nhuận (17,1%) cao nhât so với các hình thức nuôi khác. Trần Quốc Hùng (2021) đã nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê vùng Tây Nguyên”.
Trong nghiên cứu nay, mô hình nhị phân Logistic được sử dung dé ước lượng các nhân tố tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) trong sản xuất cà phê vùng Tây Nguyên. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng có bốn nhân tố tác động quan trọng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê, gồm: độ tuổi, trình độ học van, số năm kinh nghiệm và thé chế (gồm khả năng tiếp cận thông tin, dich vụ mở rộng và tin dụng). Trong đó, nhân tố thé chế ảnh hưởng rõ nét nhất đến quyết định UDCNC trong sản xuất cà phê.