Đặt vấn đề Phân tích, dự báo xâm nhập mặn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong ngành nông nghiệp tinh nha. Các năm gần đây có nhiều nghiên cứu vẻ tình hình xâm nhập mặn tại ĐBSCL nhưng có hai xu hướng chủ yếu đó là: - Một là nghiên cứu theo diện rộng, hướng này sẽ tiến hành nghiên cứu theo vùng. Tại Tây Nam bộ, thì các nghiên cứu đều hướng về vủng ĐBSCL. Hướng nghiên cứu này sẽ đánh giá tổng quan về tình hình xâm nhập mặn, đưa ra các giải pháp dé hạn chế, không có các sản phẩm thực tế mà là các kết quả thé hiện theo từng giai đoạn.
- Hai là nghiên cứu theo từng tinh, tại tỉnh Bến Tre có hai nghiên cứu đáng chú ý là “xác định nguyên nhân, dự báo tình hình xâm nhập mặn vào đất và nước tải tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu — nước biển dâng. Đề xuất các giải pháp thích ứng” và nghiên cứu “thực trạng giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bến Tre”. Hướng nghiên cứu này có kết quả cũng là các giải pháp theo từng giai đoạn. Cả hai hướng nghiên cứu đều đưa ra giải pháp thích ứng phi hợp, hạn chế các thiệt hại gây ra đối với tình hình xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khi hậu.
Về lâu về dài, cần có một công cụ thể hiện các nghiên cứu phân tích, dự báo xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre Mục tiêu: Xây dựng và phân tích số liệu thực đo và số liệu mô phỏng dự báo xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Bến Tre và thử nghiệm với số liệu tại trạm đo mặn của tỉnh Bến Tre Mục tiêu cụ thể: - Thu thập các dữ liệu hiện có tại các trạm thủy văn Mỹ Hóa, thủy văn An Thuận và một số trạm thủy văn liên quan thuộc địa bàn tỉnh Bến Tre và vùng lân cận; - Phân tích số liệu thực đo tại trạm thủy văn Mỹ Hóa và An Thuận; - Phân tích số liệu mô phỏng tại trạm thủy văn Mỹ Hóa và An Thuận; - Đề xuất mô hình dự báo thông qua các thuật toán Hồi quy tuyến tính và phương pháp máy học. Phương pháp luận Phương pháp điều tra, thu thập Thu thập các thông tin, dữ liệu liên quan về khí tượng thủy văn, các hiện tượng thiên tai có nguồn gốc KTTV, hiện trạng các ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội và quy hoạch/kế hoạch phát triển trong giai đoạn tới, bổ sung các thông tin về điều kiện địa lý tự nhiên và KTXH, hiện trạng và quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi, đê điều. Phương pháp thống kê phân tích hệ thống và ké thừa các tài liệu đã có Kế thừa và chọn lọc tư liệu về xâm nhập mặn, thu thập số liệu, phân tích tài liệu trong và ngoài nước hiện có liên quan đến nghiên cứu. Kế thừa các phương pháp nghiên cứu về phân tích dữ liệu hệ thống trong các nghiên cứu trước đây.
Phương pháp mô hình toán Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính và áp dụng mô hình máy học đề kiểm định tính chính xác, đánh giá quá trình xâm nhập mặn. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia về cách tiếp cận, thiết kế nghiên cứu, phương pháp luận về đánh giá hiện tượng xâm nhập mặn; luận cứ khoa học các vấn đề cần giải quyết, phân tích đánh giá nguyên nhân và tìm kiếm các giải pháp khắc phục cả trước mắt và lâu dài. Các bước tiến hành Đề xây dựng một hệ thống phân tích, cảnh báo xâm nhập mặn đáp ứng được yêu cầu là chính xác, hạn chế một phần sử dụng phương pháp thủ công hiện tại. Cần triển khai các bước như sau: Bước 1: Thu thập số liệu, chuẩn hóa số liệu Bước 2: Mô tả và Phân tích số liệu.
Bước 3: Xây dựng mô hình dự báo. Bước 4: Đánh giá kết quả phân tích và dự báo. Phạm vi và giới hạn l l Trong phạm vi bài báo cáo, Em xin đê xuât mô hình chạy thực nghiệm gồm 2 phương pháp do là đo chu kỳ triều tại tram An Thuận - Ba Tri và đo theo ngày tại trạm Mỹ Hóa — Thành phó Bến Tre. - Do theo chu kỳ triều (tram An Thuận - Ba Tri): mỗi tháng có 2 chu kỳ triều, kéo đài 15 ngày/Chu kỳ.
Số liệu được đo cho mỗi chu kỳ là 12 lần/ngày. Phương pháp đo tích sâu, đo 3 tầng nước là tầng mặt, tầng giữa và tầng đáy. Dữ liệu được thu thập từ năm 2019-2021 và 5 tháng đầu năm 2022. 10 - Do theo ngày (tram Mỹ Hóa — Thành phố Bến Tre): số liệu được đo mỗi ngày, với 12 lần/ngày.
Áp dụng hình thức đo tích sâu, đo 3 tầng nước là tầng mặt, tầng giữa và tầng đáy. Dữ liệu được thu thập từ năm 2019-2021 và 5 tháng đầu năm 2022. - Dữ liệu: dạng bảng biểu, dữ liệu cột có 14 cột, 12 cột thé hiện giờ đo mẫu nước theo giờ lẻ, 02 cột còn lại thé hiện tỉ lệ (%o) cao nhất, thấp nhất và dữ lệu dòng thể hiện ngày đo (từ ngày 01/01 đến 15/6) thé hiện số liệu đo theo chu ky triều hoặc theo ngày. Cấu trúc luận văn Cấu trúc sẽ bao gồm các chương, cụ thể như sau: - Chương | (Tổng Quan): bao gồm giới thiệu tổng quan về hướng nghiên cứu, khu vực nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu - Chương 2 (Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu liên quan): trình bày phương pháp nghiên cứu phỏ biến về phân tích, dự báo xâm nhập mặn và cách lựa chọn mô hình.
- Chương 3 (Phương pháp đề xuất): sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính và mô hình máy học để phân tích sự ảnh hưởng, tác động giữa các yếu tổ liên quan đến xâm nhập mặn, xây dựng mô hình dự báo. - Chương 4 (Giới thiệu bộ dữ liệu — phân tích dự liệu): Giới thiệu dữ liệu chuyên ngành Thủy văn được thu thập từ 2 Trạm Thủy văn An Thuận và Mỹ Hóa trong 3 năm 2019-2021 và 5 tháng đầu năm 2022. Phân tích dữ liệu và xây dựng mô hình dự báo. -_ Chương V: (Đánh giá kết quả phân tích): đánh giá kết quả phân tích và mô hình dự báo.
- _ Kết luận và hướng phát triển. Tổng quan về nghiên cứu xâm nhập mặn quốc tế Do tính chất quan trọng của hiện tượng xâm nhập mặn có liên quan đến hoạt động kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia nên vấn đề tính toán và nghiên cứu đã được đặt ra từ lâu. Mục tiêu chủ yếu của công tác nghiên cứu là nắm được quy luật của các quá trình này để phục vụ hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng vùng cửa sông như ở các nước như Mỹ, Nga, Hà Lan, Nhật, Trung Quốc,. SỬ dụng các phương pháp cơ bản được thực hiện bao gồm: thực nghiệm (dựa trên số liệu quan trắc) và mô phỏng quá trình bằng các mô hình toán.
Việc mô phỏng quá trình dòng chảy trong sông ngòi bằng mô hình toán được bắt đầu từ khi Saint — Vennant công bố hệ phương trình mô phỏng quá trình thủy động lực trong hệ thống kênh hở một chiều nồi tiếng mang tên ông. Chính nhờ phương pháp giải của hệ phương trình Saint — Venant nên kỹ thuật tính sai phân và công cụ máy tính điện tử đáp ứng được thì mô phỏng dòng chảy trong sông ngòi là công cụ quan trọng để nghiên cứu. Mọi dự án phát triển tài nguyên nước trên thế giới hiện nay đều coi mô hình toán dòng chảy là nội dung tính toán không thể thiếu. Zhang Xinfeng và Deng Jiaquan đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của xâm nhập mặn ở cửa sông Châu Giang (Trung Quốc) và sử dụng bền vững tài nguyên nước tại sông Châu Giang.
Tác giả đã đánh giá tầm quan trọng của nước thượng nguồn, hồ chứa đến quá trình day lùi mặn trong thời kỳ khô hạn năm 2006 — 2007 và 2007 - 2008. Ngoài ra, nghiên cứu này đã nêu rõ tầm quan trọng của hồ chứa, hướng gió, hình thái sông ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xâm nhập mặn tại sông Châu Giang.Resmi đã nghiên cứu đánh giá xâm nhập mặn vùng cửa sông Periyar - Án Độ. Nghiên cứu này tác giả sử dụng Brockway Model (2006) là mô hình thực nghiệm để đánh giá sự phù hợp vùng cửa sông Periyar và dự đoán xâm nhập mặn. Tác giả sử dụng mô hình thực nghiệm đạt được kết quả 12 xâm nhập mặn năm 2008, 2009, 2010 có xâm nhập mặn có chiều dài tỉ lệ nghich với lượng nước sông ở cửa sông.
Tổng quan về nghiên cứu xâm nhập mặn trong nước Nghiên cứu xâm nhập mặn ở Việt Nam được quan tâm từ những năm 60 khi bắt đầu tiến hành quan trắc độ mặn ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. Đối với đồng bằng sông Cửu Long đo đặc điểm địa hình không có đê bao và mức độ ảnh hưởng của xâm nhập mặn có tính quyết định đến sản xuất nông nghiệp ở vựa lúa lớn nhất cả nước nên việc nghiên cứu xâm nhập mặn ở đây được chú trọng nhiều hơn, đặc biệt thời kỳ sau năm 1976. Khởi đầu là các công trình nghiên cứu, tính toán của Ủy ban sông Mê Kông về xác định ranh giới xâm nhập mặn theo các phương pháp thống kê trong hệ thống kênh rạch ở 9 vùng cửa sông thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Các kết quả tính toán từ chuỗi số liệu thực đo đã lập lên bản đồ đẳng trị mặn với hai chỉ tiêu cơ bản 1% và 4%o cho toàn khu vực đồng bằng trong những tháng 12 đến tháng 4.
Nhiều báo cáo dưới các hình thức công bố khác nhau đã xây dựng các bản đồ xâm nhập mặn từ số liệu cập nhật và xem xét nhiều khía cạnh tác động ảnh hưởng các nhân tố địa hình, KTTV và tác động các hoạt động kinh tế đến xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long Việc day nhanh công tác nghiên cứu xâm nhập mặn ở nước ta được đánh dấu vào năm 1980 khi bắt đầu triển khai dự án nghiên cứu xâm nhập mặn đồng bằng sông Cửu Long dưới sự tài trợ của Ban Thư ký Ủy ban sông Mê Kông. Trong khuôn khổ dự án này, một số mô hình tính xâm nhập triều, mặn đã được xây dựng như của Ban Thư ký Ủy ban sông Mê Kông và một số cơ quan trong nước như Viện Quy hoạch và Quản lý nước, Viện cơ học,.