chương 1, có mặt trong phần lớn các chương trình phân tích kết cấu.2 Kết quả phân tích ứng suất của tắm có lỗ khoét bằng phương pháp PTHH Trần Ngọc Linh Luận văn thạc sỹ kỹ thuật 2.3 Phương pháp phân tử hữu hạn trong phân tích ứng suất cục bộ Ưu điểm lớn nhất của phương pháp phần tử hữu hạn trong phân tích cục bộ là có thể tính toán các ứng suất tại các điểm nút và ở vị trí bất kỳ trong lòng các phần tử. Có thể hình dung kết cấu cục bộ được chia thành các phần tử nhỏ gắn kết với nhau thông qua một mạng lưới điểm nút không gian. Nói chung độ chính xác sẽ đạt được càng cao khi mạng lưới nút này càng dầy. Thay vì sử dụng các hàm ứng suất rất phức tạp như trong lý thuyết đàn hồi, các mô hình phần tử hữu hạn được lập trên cơ sở các hàm dạng có độ phức tạp nhỏ hơn nhiều.
Sự xấp xỉ toán học và cơ học giúp cho việc xây dựng thuật toán giải trên máy tính điện tử có nhiều thuận lợi.1 Quá trình mô hình hóa kết cấu cục bộ Quá trình mô hình hóa kết cấu cục bộ phục vụ việc phân tích ứng suất tập trung có thể được thực hiện như sau: ". Nghiên cứu kỹ cấu tạo của cấu kiện về đặc tính vật liệu, mối nối hay liên kết, đặc điểm và sự phân bồ tải trọng. " Dự đoán trạng thái ứng suất cục bộ (trạng thái ứng suất phẳng, không gian). "_ Lựa chọn mô hình phần tử hữu hạn thích hợp để mô hình hóa các phần của kết cấu cục bộ.
=" Xác định sơ bộ kích thước vùng cục bộ. “ Xây dựng mô hình và tính toán kết cấu tổng thể có bộ phận kết cầu cục bộ tham gia, lay các kết quả phân tích về nội lực và chuyển vị tại các mặt cắt biên của cấu kiện được phân tích ứng suất cục bộ. = Xay dung m6 hình kết cấu cục bộ. = Dua cdc điều kiện biên vào kết cấu cục bộ.
= Thực hiện tính toán và hiệu chỉnh lại mô hình lưới phần tử hữu hạn trên cơ sở phân tích kết quả tính toán.2 Một số loại phần tử hữu hạn hay được sử dụng để mô hình hóa kết câu cục bộ 2.1 Phần tử thanh Thường được sử dụng dé mô tả bộ phận chuyên tiếp về tái trọng hay điều kiện biên đối với vùng cục bộ hoặc các phan tử cốt thép và cáp dự ứng lực trong bê tông. Phần tử thanh không gian có đầy đủ 6 bậc tự do (3 chuyển vị đường và 3 chuyên vị góc) tại mỗi điểm nút.2 Phần tử phẳng Gồm hai nhóm chính: phần tử ứng suất phẳng và phần tử biến dạng phẳng. Phần tử ứng suất phẳng thường được dùng đề mô hình kết cấu dạng tường, đặc biệt cho các phần cánh, sườn của kết cấu thép hình, vỏ thép,. Phần tử biến dạng phăng được dùng để mô hình một lớp cắt của Trần Ngọc Linh 10 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật nền đường hoặc trong tính toán đê, đập.
Phần tử ứng suất phẳng và biến dạng phẳng đều chỉ có 2 chuyền vị đường (trong mặt phẳng phần tử) tại mỗi điểm nút.3 Phần tử tắm, vỏ Có thê dùng phần tử tắm đề mô tả các bản sàn, bản mặt cầu, dầm bản,. Đó là những cấu kiện chịu uốn là chính có kích thước hai chiều lớn hơn nhiều so với một chiều còn lại (bề đầy của tấm). Phần tử tắm có 3 bậc tự do (1 chuyển vị đường và 2 chuyên vị góc) tại mỗi điểm nút. Phan tử vỏ là sự kết hợp của phần tử ứng suất phẳng và phần tử tắm uốn.
Đây là loại phần tử hay được sử dụng nhất vì trong kết cầu dạng tắm bản thường cần phải xem xét cả ứng xử trong mặt phăng tắm và ngoài mặt phăng tắm. Vì vậy, có thể dùng phần tử vỏ dé thay thé cho cả phần tử ứng suất phẳng và phần tử tắm uốn. Phần tử vỏ thường có 5 bậc tự do (2 chuyển vị góc và 3 chuyên vị đường) ở mỗi điểm nút.4 Phần tử khối Loại phần tử này thường được dùng để mô hình hóa bộ phận kết cấu chịu ứng suất không gian, nghĩa là các ứng suất theo cả ba phương chính đều lớn. Những bộ phận cần được mô hình hóa bằng loại phần tử này thường có kích thước cả ba chiều đều gần bằng nhau giống như các cục, các khối.
Phần tử khối có 3 bậc tự do là các chuyền vị đường ở mỗi nút.5 Phần tử liên kết Nhóm phần tử này đặc biệt quan trọng và được dùng đề mô tá quan hệ giữa các bộ phận (liên kết trong) cũng như tại các biên của kết câu (liên kết ngoài). Phần tử liên kết thường gồm có liên kết theo nút, liên kết theo đường, liên kết theo mặt. Các phần tử liên kết đặc biệt và hay sử đụng là các phần tử liên kế một chiều (phần tử liên kết chỉ chịu nén, phần tử liên kết chỉ chịu kéo). Những phần tử liên kết cứng, đàn hồi tổng quát và các mô tả liên kết biên như chuyền vị cưỡng bức cũng rất hay được sử dụng.
Ngoài ra, các phần tử hữu hạn cơ bản nêu trên cũng có thể được sử dụng như là các phần tử liên kết bằng cách xem xét thông số độ cứng một cách thích hợp. Lựa chọn mô hình phần tử hữu hạn là một công việc quan trọng. Thông thường, phần tử phẳng tứ giác 4 điểm nút cho độ chính xác tốt hơn phần tử tam giác 3 điểm nút. Phần tử khối lục diện 8 điểm nút phản ánh ứng xử của kết cấu hợp lý hơn phần tử khối tứ diện 4 điểm nút.
Các phần tử bậc cao nên được lựa chọn so với các phần tử tuyến tính. Tuy nhiên, cần thiết sử dụng các phần tử tam giác và tứ điện cho các trường hợp mô tả các biên hình học phức tạp của kết cầu vì chúng được sự hỗ trợ của các thuật toán phát sinh lưới phần tử hữu hạn rất hiệu quả so với các loại phần tử khác như thuật toán Delaunay. Đề tăng độ chính xác mô hình tính cho các vùng chịu ứng suất phức tạp, lưới phần tử hữu hạn cũng được chia có mật độ dày hơn ở những vùng cục bộ đó. Một điểm quan trọng trong khác trong việc mô hình hóa các cấu kiện chịu lực cục bộ là phải đảm bảo sự tương thích giữa các phần tử.
Sự phối hợp các loại phần tử khác chiều (1 chiều, 2 chiều, 3 chiều) nên chú ý đặc điểm cấu tạo của chúng. Ví dụ, phần tử thanh nếu thêm một chiều thì có thể trở thành phần tử phẳng hoặc tắm phẳng, phần tử tắm thêm một chiều thì thành Trần Ngọc Linh 11 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật phần tử khối. Ngoài các nút thì các cạnh của phần tử cũng cần phải tương thích với nhau (xem xét sự phù hợp của các hàm dạng). Chú ý rằng phần tử khối chỉ có 3 bậc tự do là các chuyên vị đường tại mỗi điểm nút, do vậy, khi mô hình cùng với các phần tử khác nên dùng các liên kết cứng để ràng buộc các bậc tự do này một cách chặt chẽ.
Với cùng một cấu kiện, việc mô hình hóa kết cấu không nên chỉ dừng lại ở một mô hình duy nhất. Trạng thái ứng suất phức tạp của câu kiện phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện biên. Sự thay đổi của tải trọng và liên kết ảnh hưởng rất nhiều đến sự phân bồ ứng suất. Việc phân tích cấu kiện với nhiều trường hợp nghiên cứu khác nhau sẽ cho kết quả đầy đủ và nắm bắt được ứng xử của cấu kiện một cách hoàn chỉnh hơn.
Khi phân tích ứng suất cục bộ, cần phải chú ý đến đặc điểm phá hoại của từng loại vật liệu. Ví dụ, vật liệu thép thường phá hoại dẻo trong đó vật liệu bê tông thường phá hoại giòn. Như vậy, các ứng suất tương ứng cần xem xét kỹ tương ứng là các ứng suất tiếp lớn nhất và ứng suất pháp cực trị. Trần Ngọc Linh 12 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Chương 3: Phát triển mô hình phần tử hữu hạn thích hợp cho việc mô hình hóa và phân tích vùng ứng suất tập trung Trong chương này trình bày lý thuyết phần tử hữu hạn trong việc xây dựng các mô hình phần tử tuyến tính và bậc cao.
Các hệ tọa độ tự nhiên, phần tử đẳng tham sé, tính toán tích phân số,. sẽ được trình bày như là các nội dung chính của chương này. Những thuật toán phát sinh lưới phần tử, các thử nghiệm và đánh giá độ chính xác của một số loại phần tử cũng được tiến hành. Việc lựa chọn mô hình phần tử thích hợp sẽ thực hiện thông qua các kết qủa phân tích thử nghiệm và so sánh giữa các mô hình phần tử hữu hạn.1 Hệ toạ độ tự nhiên 3.1 Khái niệm chung Hệ toạ độ tự nhiên là một hệ toạ độ địa phương trong phần tử, nó cho phép xác định vị trí của một điểm bất kỳ trong phần tử bằng một tập hợp các số không thứ nguyên có giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 hoặc từ -1 đến 1.
Đặc điểm chủ yếu của hệ toạ độ này là nó thay đổi tuyến tính từ 0 đến 1 hoặc từ —1 đến 1. Như vậy vị trí của một điểm bất kỳ trong phan tử, với hệ toạ độ này được biểu diễn qua toạ độ các đỉnh. Ưu điểm cơ bản của hệ toạ độ tự nhiên so với hệ toạ độ Đề các là ở chỗ, việc sử dụng nó làm hàm dạng trở thành đơn giản rất nhiều, và việc tính biểu thức tích phân xác định của phần tử có thể đưa về dạng giải tích đơn giản. Ngoài ra toa độ tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc tính toán các phần tử cong.
Nếu ta goi toa do nay tai nut i 1a L; (i=1, 2,.n) thi Lj co gia tri bang 1, còn toa độ ở các nút khác bằng không.2 Toạ độ tự nhiên của phần tử một chiều tuyến tính Vị trí của điểm P bất kỳ trong toạ độ tổng quát Ox được xác định bằng toa độ x, x biến đổi từ xị đến x; (hình 3.1) y P L———o——-dt——ce—> 1 J(1,0) (L2) (0,1) X X2 Toạ độ tự nhiên của điểm P gồm 2 toạ độ Hình 3.1) Xa —Xị X¿ —Xị Tại nút I(x=xi) Li=l, Lạ=0 Trần Ngọc Linh 13 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Tai nut2(x=x2) Lị=0, Lạ=l L¡(x) và Lạ(x) là hàm của toạ độ tổng quát x của điểm M và của toạ độ nút xị, xa, giữa chúng có quan hệ Li(x) + La(x) = 1 (3.2) Vị trí của điểm P được xác định qua hệ toạ độ tự nhiên x=L(@Œ)xị + Lạ(X)X¿ (3.