Chương I Tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử: Giới thuyết về thể loại, những tương đồng và dị biệt I. Tiểu thuyết, giới thiệu về thể loại: Thể loại tiểu thuyết trong sự phát triển lịch đại của văn học sinh sau đẻ muộn. Sự ra đời và phát triển của một số thể loại của văn học rất sớm. Có những thể loại ra đời tiền văn tự như: Sử thi cổ đại, các thể loại văn học thuộc văn hoá dân gian - FOLKLORE.
Nó tồn tại gắn liền với các hình thái sinh hoạt dân gian và cả trong lễ hội. Sự chuyển dịch từ văn học dân gian thành văn học thành văn là sự phát triển nhảy vọt của văn học. Nó chuyển hẳn từ văn hoá nghe qua giọng kể, văn hoá nhìn qua biểu diễn thành văn hoá đọc. Sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết trong văn học nâng tầm văn hoá đọc lên một bước mới, một tầm cao mới.
Có lẽ cũng vì thế mà tiểu thuyết không phải là món ăn tinh thần cho tất thảy quảng đại quần chúng; cho dù tác giả muốn hướng tới quần chúng đến mức cao nhất trong phản ánh cuộc sống bằng thể loại đặc biệt này. Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi không có tham vọng trình bày những vấn đề về thể loại và thi pháp tiểu thuyết một cách đầy đủ mà ở đây chỉ trình bày ở góc độ giới thuyết ( có giới hạn) như là những nét khái quát về tiểu thuyết trong sự phát triển của văn học với tư cách là một thể loại đặc biệt, như là một nhịp nối để bàn về tiểu thuyết lịch sử. Hê ghen gọi tiểu thuyết là "Sử thi thị dân" điều này có nghĩa là tiểu thuyết hiện đại phương Tây ra đời gắn liền với sự ra đời và phát triển của yếu tố tư bản, với sự hình thành của giai cấp tư sản. Nhận định này của Hê ghen còn giúp ta thấy cái mốc đã làm nảy sinh một thể loại văn học mới 7 mẻ là tiểu thuyết.
Biê lin x ki cho rằng: " Sử thi của thời đại chúng ta là tiểu thuyết. Trong tiểu thuyết có tất cả những dấu hiệu thể loại quan trọng của sử thi, chỉ có sự khác nhau là trong tiểu thuyết khống chế những yếu tố khác và sắc màu khác"(Phan Cự Đệ - Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại). Nói như vậy có nghĩa là tiểu thuyết ra đời không tách rời sự vận động nội tại của văn học. Bị chi phối bởi yếu tố khách quan là cuộc sống, song tiểu thuyết, một sản phẩm tinh thần của con người có sự vận động nội tại để hoàn thiện.
Khi Biêlinxki nói rằng: " Trong tiểu thuyết có những sắc màu khác" thì chính là sự phản ánh, miêu tả " cuộc sống hàng ngày". Cuộc sống đang diễn ra hôm nay chứ không phải là cái quá khứ sử thi tuyệt đối. Vì thế, tiểu thuyết có thể tái hiện cuộc sống bằng những nguồn đề tài khác nhau. Đề tài trong quá khứ là lịch sử.
Đề tài trong cuộc sống hiện tại là "tình trạng hiện tại của nó". Vì thế, tiểu thuyết phải miêu tả cuộc sống như là nó vốn có. Tiểu thuyết hướng tới cuộc sống, miêu tả cuộc sống của cộng đồng xã hội. Nhân vật của tiểu thuyết vì thế mà sinh động như trong cuộc đời.
"Bằng nghệ thuật điển hình hoá, nhà tiểu thuyết nâng cái cá biệt, cái cụ thể lên chiều cao của sự khái quát. Cái đích của tiểu thuyết mà cũng là phương tiện để thực thi hoàn thành tiểu thuyết là hư cấu, song là hư cấu, từ chính cuộc sống hiện tại mà tác phẩm phán ánh. Điều này khác hẳn với một số tiểu thuyết từ trước nửa thế kỷ XVIII. Đó là sự hư cấu trên cơ sở những truyền thuyết thần thoại cổ như kiểu Tristan Iseult của Josef Bedie'.
Hoặc là tiểu thuyết kỵ sĩ thời phục hưng sử dụng những hình tượng và những thủ pháp nghệ thuật của sử thi kỵ sĩ trung thế kỷ để kể lại những cuộc du hành thám hiểm những khám phá lớn lao về sức mạnh vạn năng của con người trong thế kỷ XVI. Như vậy là mãi đến cuối thế kỷ XVIII và đặc biệt thế kỷ XIX người ta mới quan niệm Roman như ta hiểu ngày nay, nghĩa là một tác phẩm "miêu tả cuộc sống với tất cả tính chất văn xuôi của nó, một chuyện hư cấu về những việc có tính 8 chất xác thực của cuộc sống nhân loại" (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Phan Cự Đệ ). Sử thi hướng về cái quá khứ tuyệt đối với một " khoảng cách sử thi " đầy tôn kính, còn tiểu thuyết là cuộc sống bình thường hàng ngày, là một thể loại mang tính dân chủ (dân chủ với nhân vật, dân chủ với bạn đọc ). Tiểu thuyết phát huy cao độ vai trò của hư cấu, thậm chí có những hư cấu cao độ ( Don Qui chotte, Xuân Tóc Đỏ ), đến mức không thể tìm được một nguyên mẫu đúng như thế trong cuộc đời.
Tiểu thuyết hướng về cuộc sống đương đại, về cái hiện thực đang vận động, đang phát triển, nên dù có nói chuyện trung thế kỷ hay kể chuyện khoa học viễn tưởng thì chủ yếu cũng phải giải quyết những vấn đề bức xúc của đương đại. ở cái nôi văn hoá phương Đông, điển hình là Trung Quốc, tiểu thuyết đã xuất hiện trong đời sống văn học từ rất sớm. Theo "Trung Quốc tiểu thuyết sử lược" của Lỗ Tấn ,"Hán thư nghệ văn chí" cho rằng phái các nhà tiểu thuyết là vốn xuất phát từ chức tỳ quan, chép những lời ngoài đường ngoài ngõ. Những chuyện ngụ ngôn, những chuyện quái lạ, những giai thoại, những chuyện hoang đường có tính chất lịch sử.
là những chuyện hết sức vụn vặt ngoài đường ngoài ngõ. Tiểu thuyết theo quan niệm trên là những lời nói nhỏ - "tiểu thuyết" - vụn vặt được ghi chép. Như thế, theo quan niệm này, " tiểu thuyết" chưa được coi là sự sáng tạo mang tính chất văn học bác học, chưa thể xuất hiện tiểu thuyết gia sáng tác mà chỉ có tiểu thuyết gia chí mà thôi. Cũng chính vì thuần tuý là ghi chép mà tiểu thuyết, dưới cái nhìn của Nho gia cửa Khổng, sân Trình không phải là chính thư, trái với đạo Nho.
Tiểu thuyết ở đây còn có thể hiểu là tạp thuyết. Điều này hoàn toàn khác với khái niệm tiểu thuyết mà Lỗ Tấn dùng sau này. Với quan niệm "Văn dĩ tải đạo" của đạo Nho, văn học Trung Quốc một thời gắn với lịch sử, dường như không tách rời lịch sử. Văn học là cái chí hướng tới của người quân tử để lập ngôn nếu không lập nổi đức, lập nổi công, thì lưu danh sử sách bằng " trước thư lập ngôn ".
Vì lẽ đó mà một thời kỳ phát triển 9 đến tột đỉnh của thơ ca từ thời Đường, Tống, tiểu thuyết vẫn hầu như tránh mặt trên văn đàn Trung Quốc. Mãi đến thời Minh -Thanh (Thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI), tiểu thuyết mới xuất hiện mà điển hình là: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử, Tây Du Ký và Hồng Lâu Mộng. Với bốn pho đại tiểu thuyết này, văn học Trung quốc đã xuất hiện những tiểu thuyết gia lớn : La Quán Trung, Thi Nại Am, Ngô Thừa Ân, Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc. ở Việt Nam, tiểu thuyết hiện đại như ta quan niệm hiện nay thực sự hiện hữu trên văn đàn từ những năm 20 của thế kỷ XX, với những tên tuổi: Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Hoàng Ngọc Phách.
Truyện ngắn đã xuất hiện, trong văn học Việt nam khá sớm. Nó bắt nguồn từ các loại: thần tích, chí quái, truyền kỳ. Quá trình phát triển của văn xuôi, cũng là quá trình tách rời giữa lịch sử và văn học. Tính lịch sử, tính chất chí bớt đi và tính sáng tạo, hư cấu nghệ thuật tăng lên.
Cũng là quá trình đi lên từ chuyện lạ hoang đường đến những chuyện bình thường hàng ngày trong cuộc sống. Có thể nói, truyện ngắn Việt Nam được khai sinh từ nguồn gốc dân gian và lịch sử. Vì lẽ đó, văn học thành văn của Việt Nam gắn liền với những chuyện kể dân gian, các loại thần tích (Việt điện u linh), chí quái (Lĩnh Nam chích quái), truyền kỳ (Truyền kỳ tân phả, Truyền kỳ mạn lục), truyện thơ nôm từ truyện cổ tích (Thạch Sanh), truyện thơ nôm khuyết danh Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa. Nguồn mạch và dòng chảy của văn học thành văn của Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX xuất hiện những thiên ký sự, tuỳ bút, tiểu thuyết lịch sử (Thượng kinh ký sự, Vũ trung tuỳ bút, Hoàng Lê nhất thống chí).
Những năm 20 của thế kỷ XX, hiện tượng Hồ Biểu Chánh với hơn 60 tiểu thuyết phản ánh cuộc sống Nam bộ, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức tốt đẹp của ông đối với cuộc sống đương thời. Hiện tượng Biểu Chánh - Hồ Văn Trung có thể xem là con người tiên phong trong lĩnh vực tiểu thuyết văn xuôi, mang tính luận đề. Hiện tượng Hoàng Ngọc Phách với "Tố Tâm" có thể xem là người đặt nền 10 móng cho tiểu thuyết mới với bút pháp lãng mạn. Hiện tượng Phạm Duy Tốn với "Sống chết mặc bay".
có thể xem là người đặt nền móng cho truyện ngắn mới với bút pháp hiện thực phê phán. Tiểu thuyết có vị trí đặc biệt trong văn học như trên đã trình bày một cách tóm tắt. Bên cạnh đó, tiểu thuyết có ưu thế tuyệt đối trong phản ánh toàn vẹn cuộc sống với bình diện lớn, tổng thể. Tiểu thuyết hiện vẫn còn là một thể loại chưa có hồi kết.
Mối quan hệ, cách nhìn nhận, việc phản ánh cuộc sống, tái tạo cuộc sống, các nhà văn đã làm nên những dòng chảy, những chủ thuyết trong quá trình sáng tạo. ở phương Tây, tiểu thuyết cổ điển phát triển mạnh ở thế kỷ XIX, đồng thời cũng làm bùng nổ những dòng chảy, chủ thuyết về tiểu thuyết ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX: chủ nghĩa tự nhiên của E'mile Zola, chủ nghĩa hiện sinh của Jean Paul Satre, Camus, Hiện tượng Milan Kundera đã đưa vào văn học đương đại tiểu thuyết giả tưởng khi mà ông chủ trương " suy nghĩ về một câu chuyện". Hiện tượng văn học Harry Potter được xem là một loại hình mới của văn học hậu hiện đại phương Tây. Giữa thế kỷ XX, phe xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển, đối trọng với chủ nghĩa tư bản ở các nước phương Tây.
Trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, văn học được sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, làm nảy sinh một hiện tượng văn học phát triển rực rỡ với những tên tuổi như: Maxime Gorki; Alexis Tolstoi; Cholokhov; Fade'ev; Ehrenbourg; Aimatov thuộc Liên bang Xô viết (cũ).