mở đầu cho một cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm trên đất nước Việt Nam và kéo theo nó mọi hoạt động của đời sống dân tộc đều bị chiến tranh chi phối. Chính vì vậy, nền văn hóa văn nghệ mà đặc biệt là nền văn học Việt Nam cũng mang đậm dấu ấn chiến tranh, trong đó tiểu thuyết chính là thê loại thấm đẫm hoi thở thời đại. Bởi, tiêu thuyết là thé loại chủ lực của văn xuôi, cũng đồng thời là thước đo sự trưởng thành của một nền văn học. Nó là danh dự, là niềm tự hào của mỗi dân tộc, “thiéu nó, dân tộc thiếu sử thi” [26].
Với khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”, tiêu thuyết Việt Nam giai đoạn này chủ yếu tập trung vào “. cổ động tỉnh thân và lực lực lượng khang chiến của nhân dân” như lời nhắc nhở của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời “. phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới biết. phải có những tác phẩm xứng đáng chang những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn dé lưu truyền những gương mau oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho con chau đời sau” [57].
Các nhà nghiên cứu thống nhất rang, nền văn học cách mang Việt Nam là một nền văn học sử thi (anh hùng ca). Cơ sở hình thành của nền văn học sử thi chính là hiện thực hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhà triết học biện chứng Hegel cho rằng: Tinh huống phù hợp nhất với thơ sử thi là các xung đột của trạng thái chiến tranh. Thực vậy, trong chiến tranh, chính là toàn bộ dân tộc đang vận động.
Nó bị kích thích phải hành động vì nó phải bảo vệ toàn bộ mình [36]. Hai cuộc kháng chién đã khiến toàn dân tộc bị kéo vào vòng chiến tranh, vì vậy ý thức xả thân vì độc lập dân tộc đã tạo nên hàng vạn anh hùng, tô điểm cho bản anh hùng ca 16 hùng tráng của đất nước. Nói như Nguyễn Huy Tưởng: “Thời đại chúng ta sống là một thời đại phi thường, một thời đại của “sử thi”, các tướng lĩnh và toàn thé đồng bao đem xương máu sáng tạo nên hàng nghìn, hàng van sự tích bi trang, dọn thành một kho vô tận tài liệu cho văn nghệ mới.” Chính vì vậy, đặc trưng chủ đạo của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam là luôn bám sát các mục tiêu chính trị trước mắt, kịp thời cổ vũ chiến dau và xây dựng CNXH như Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Người người lop lớp của Trần Dan, Dat nước đứng lên của Nguyên Ngọc. Các nhà văn dùng bút pháp hiện thực để phanh phui, phê phán những cái xấu xa của xã hội cũ và dùng bút pháp lãng mạn cách mang dé ca ngợi, biểu đương cuộc sống mới.
Nhân vật được miêu tả trong mối quan hệ biện chứng với hoàn cảnh sống, xây dựng được những hình tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nhân vật chủ đạo là những con người mới XHCN, mang vẻ đẹp toan diện, có tác dụng nêu gương. Giọng điệu chủ đạo là ngợi ca công lao của Đảng Cộng sản và nhân dân anh hùng. Văn phong trong tiểu thuyết cách mạng thường chuẩn mực, giản di, dé hiểu với quần chúng.
Đánh giá về đóng góp của mảng tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt Nam cho nền văn học nước nhà nói chung và mảng tiểu thuyết nói riêng, có nhiều ý kiến cho răng đây là mảng văn học phải đạo, văn học giáo huấn, văn học chính trị, văn học minh họa. Tuy nhiên, công băng mà nói, trong cuộc chiến tranh ác liệt ay, nén van hoc Viét Nam không bị thoái trào mà còn phát triển mạnh mẽ đó là nhờ một phan rất lớn của mảng tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, tiểu thuyết viết về dé tài chiến tranh đã góp phần hoàn thiện thêm thể loại tiêu thuyết mới manh nha được hình thành trong giai đoạn trước, đồng thời còn cho ra đời 17 mảng tiểu thuyết trinh thám- chính tri hay còn gọi là tiêu thuyết tình báo làm phong phú thêm diện mạo của nền văn học nước nhà. Mảng tiểu thuyết tình báo và vị trí của tiểu thuyết Ông cỗ van Là một nhánh của tiêu thuyết trinh thám, tiêu thuyết tình báo nói lên nghề nghiệp của nhân vật chính: làm gián điệp với nhiệm vụ dò la, điều tra, khám phá, khai thác thông tin của kẻ dich để cung cấp cho tổ chức của mình.
Đây là kiểu truyện vụ án, truyện viết về tội phạm, nó mách bảo tác giả xdy dựng một cốt truyện hấp dẫn, đưa bạn đọc đến với những tình huong bắt ngờ khiến họ luôn ở trong trạng thai căng thang. Lịch sử chiến tranh cách mạng là một mảnh đất màu mỡ để tiểu thuyết tình báo phát triển. Với hoàn cảnh lịch sử những thé hệ nói tiếp nhau đứng lên cầm súng tiểu thuyết tình báo thực sự trở thành một đề tài thu hút nhiều tác giả cũng như các độc giả Việt Nam. Tiểu thuyết tình báo trong nền văn học Việt Nam Vào cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, truyện tình báo đầu tiên đã xuất hiện ở miền Bắc.
Đây là thời điểm cuộc chiến tranh chống Mỹ đang vào hồi khốc liệt nhất và là thời kỳ của cuộc chiến gián điệp được đây mạnh hơn bao giờ hết. Sài Gòn lúc ấy là môi trường lý tưởng của các cơ quan tình báo: CIA Mỹ, người Nhật, người Anh, Trung Quốc và vô số các nước khác thăm dò lẫn nhau. Thông qua con đường di cư theo hiệp định Genève, nhiều chiến sĩ tình báo của miền Bắc đã tìm cách chui sâu, leo cao vào bộ máy chóp bu của chính quyền, có mặt trong các đơn vi quân đội Việt Nam cộng hòa, nằm trong các cơ quan tình báo đối phương. Trong khi đó, Mỹ và chính quyền miền Nam cũng tung hàng trăm toán gián điệp, biệt kích ra miền Bắc với mục đích thu thập thông tin tình báo và hoạt động phá hoại.
Suốt thập niên 1960 cho đến đầu những năm 1970, chuyện bắt gián điệp ở miền Bắc trở thành câu chuyện hàng ngày của 18 mỗi người dân. Những vụ bắt gián điệp diễn ra mọi nơi; những vụ án tình báo, gián điệp cũ từ cuộc chiến tranh trước được công khai, trở thành những bài học cho nhu cầu tuyên truyền cho cuộc chiến tranh chống gián điệp, biệt kích hiện tại. Tất cả các yếu tô đó đã tạo thành chat liệu và bối cảnh vô cùng giàu có cho thể loại tình báo - phản gián. Thế nhưng, cho đến giữa thập niên 1970, tiểu thuyết tình báo chỉ phát triển một cách dé dat.
Suốt gần hai mươi năm, người ta chi thấy xuất hiện thưa thớt vài cuốn sách của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân: Cat vó của Đặng Thanh, Toa độ bi mật, Mũi tên mười bay của Phạm Thanh Đàm, Bản án tử hình của Nguyễn Khắc Thứ, Nhóm rắn lục của Văn Phan. Trong bối cảnh văn học về đề tài chiến tranh được đề cao, tiêu thuyết tình báo được coi là một bộ phận của văn học chiến tranh, phản ánh và hé lộ bộ mặt khác của chiến tranh là cuộc chiến bí mật, thầm lặng mà những chiến sĩ tình báo, trinh sát đã tiến hành dé đi tới thắng lợi chung của cả cuộc chiến đâu giải phóng và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, giá trị văn chương của những cuốn sách kế trên khá hạn chế, hầu hết van mang tinh chất kể chuyện cảnh giác mà kém chất tiêu thuyết. Đất nước vẫn trong chiến tranh, lịch sử phần chìm gần như vẫn nằm trong bức tường bí mật là lý do khiến mảng tiêu thuyết tình báo thời kỳ này còn hạn chế.
Nửa sau thập niên 70 đến những năm đầu thập niên 90 là đỉnh cao của tiêu thuyết tình báo. Thời kỳ này đất nước đã thống nhất, những tư liệu chiến tranh dần được công khai, những nhà tình báo sống nhiều năm dưới vỏ bọc ở bên kia dần lộ diện, các điệp vụ tình báo, phản gián trở thành đề tài cho báo chí. Sau một thời gian dài nhìn lại, nhu cầu nhận thức về chiến tranh của mỗi người càng trở nên cấp thiết và sâu sắc. Thời điểm này, văn học dịch cũng đạt được những thành tựu cao.
Nhiều cuốn tiểu thuyết tình báo của thế giới, đặc biệt là của Liên Xô như: Mười bảy khoảnh khắc 19 mùa xuân, Đối dich, Tass được quyên tuyên bố, Tháng Tam năm bon tư, Kế hoạch Joy, Ham bi mật trên sông En-bơ., và sau này là Điệp viên đến từ xứ lạnh, Cho rừng (Anh). được dịch in, tác động đến giới sang tac, gop phan tạo nên lớp độc giả của tiêu thuyết tinh báo - gián điệp. Trong những điều kiện như thé, tiểu thuyết tình báo nhanh chóng đạt đến đỉnh cao về số lượng và giá trị thé loại. Ngay sau ngày giải phóng miền Nam, bạn đọc đã chờ đón từng kỳ cuốn tiểu thuyết X30 phá lưới của Đặng Thanh in dai kỳ trên báo Sai Gòn giải phóng, sau đó được in thành sách năm 1976.
Tác giả nay đã xuất ban 11 cuốn sách về đề tai tình báo, ngoài Cat vó, X30 phá lưới còn có Tam ban đồ that lạc (2 tập - in năm 1984), Lần theo chuỗi hạt (1987), Di tim than chết (1989). Cũng trong năm 1976, những tập đầu tiên của bộ tiểu thuyết Van bài lật ngửa của tác giả Nguyễn Trường Thiên Ly bắt đầu phát hành và thu hút sự chú ý của hang vạn độc giả. Bộ tiểu thuyết sau tập nhanh chóng được coi là bộ sách mẫu mực của thê loại tiểu thuyết tình báo Việt Nam. Năm 1982, bộ sách được chuyên thể thành phim truyện dài 9 tập.
Cả tiéu thuyết và phim được đọc va xem ở khắp moi noi. Đây là một sự kiện lớn của nền văn học và điện ảnh lúc bấy giờ. Năm 1975, Nguyễn Sơn Tùng cho ra mắt tiêu thuyết Hoa hồng trắng, sau đó ông công bố tiếp các tập sách khác như Miền đất lạ (1971), Viên đạn Hgược chiêu, Một mình nơi đất khách (1988). Đây là bộ tiêu thuyết tình báo 4 tập viết về hoạt động tình báo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.