Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Thơ Việt Nam từ sau 1986 dưới góc nhìn thể loại" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Dịu thực hiện tại Trường Đại học Hồng Đức dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hỏa Diệu Thúy và TS. Nguyễn Thanh Tâm, hoàn thành vào tháng 12 năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong lịch sử văn học dân tộc, thơ là thể loại có "đời sống lịch sử" lâu đời nhất và luôn phản ứng nhạy bén trước những biến chuyển của đời sống văn hóa - xã hội. Kể từ sau năm 1986, công cuộc Đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế cùng sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo tiền đề cho sự thay đổi toàn diện của thơ ca Việt Nam trên cả hai phương diện: nội dung tư tưởng và hình thức thể loại. Mặc dù thực tiễn sáng tác diễn ra sôi động với nhiều khuynh hướng, nhóm tác giả và tuyên ngôn nghệ thuật khác nhau, song các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận thơ sau năm 1986 ở góc độ tiến trình lịch sử văn học, phân loại khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật, khảo cứu các tác giả - tác phẩm đơn lẻ hoặc khảo sát một phương diện kỹ thuật biệt lập. Luận án xác định khoảng trống khoa học cần giải quyết là nghiên cứu một cách chuyên biệt, tổng thể diện mạo của thơ Việt Nam từ sau 1986 dưới góc nhìn thi pháp học thể loại.

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài hướng đến mục tiêu nghiên cứu, mô tả và phân tích diện mạo của thơ Việt Nam từ sau năm 1986 từ góc nhìn thể loại; qua đó đưa ra những đánh giá khái quát và dự báo về sự vận động thể loại của thơ trong tiến trình phát triển, hội nhập với thơ hiện đại thế giới.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định ba nhiệm vụ khoa học cụ thể:

  1. Nghiên cứu, xác lập cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài: lý thuyết về thể loại thơ và thực tiễn nghiên cứu về thể loại thơ sau 1986.
  2. Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá "phương thức chiếm lĩnh và tái hiện đời sống" của thơ sau 1986 ở các phương diện: chủ thể trữ tình và cảm hứng thơ.
  3. Nghiên cứu, đánh giá "thể thức cấu tạo văn bản" của thơ sau 1986 ở các phương diện: tổ chức văn bản, câu thơ, hình ảnh, ngôn ngữ và nhịp thơ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thơ Việt Nam sau 1986 từ góc nhìn thể loại.
  • Phạm vi nội dung: Dạng thức tồn tại của thể loại thông qua chỉnh thể tác phẩm, bao gồm: chủ thể trữ tình, cảm hứng thơ, cấu trúc "động" ở dạng thức thể loại và các thành tố thi pháp bên trong (hình tượng, ngôn ngữ, vần và nhịp thơ).
  • Phạm vi khảo sát tư liệu: Ưu tiên các tác phẩm đoạt giải thưởng trong các cuộc thi thơ do các tổ chức văn chương uy tín tổ chức từ sau 1986; các tác phẩm góp phần tạo nên sự vận động đổi mới thơ sau 1986 được dư luận và công chúng quan tâm; các tuyển tập thơ do các nhà xuất bản uy tín tuyển chọn và phát hành. Luận án cũng mở rộng khảo sát thêm các tác phẩm thơ giai đoạn trước năm 1986 để so sánh, đối chiếu và khảo sát những hiện tượng thơ thể nghiệm mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân chia và điểm luận tình hình nghiên cứu thơ sau 1986 theo hai hướng chính:

1. Hướng nghiên cứu khái quát về tiến trình và các phương diện thể loại

Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

  • Vũ Tuấn Anh: Chuyên khảo nghiên cứu tiến trình thơ ca nửa thế kỷ (1945–1995), trong đó thơ giai đoạn 1986–1995 được xem xét như một bộ phận của tiến trình vận động lịch sử.
  • Lê Lưu Oanh (1998): Công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 tiếp cận đối tượng từ "kiểu nhà thơ" mới mẻ thời kỳ đầu đổi mới, lấy nền tảng cái tôi trữ tình để phân tích sự vận động của thể thơ, câu thơ và hình ảnh thơ.
  • Phạm Quốc Ca (2003): Công trình Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000 đưa ra ba nhận xét có tính hệ thống: giai đoạn tiếp nối thơ cách mạng với đổi mới phi sử thi hóa và thế sự hóa; giai đoạn thơ trở về với trữ tình cá nhân; giai đoạn thơ trăn trở hiện đại hóa.
  • Trần Quang Đạo (2008): Luận án tiến sĩ Những khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật thơ của thế hệ sáng tác sau năm 1975 phân loại các khuynh hướng thẩm mỹ: sử thi, khẳng định cái tôi đời thường, khám phá con người bản năng - vô thức và tâm linh.
  • Đặng Thu Thủy (2008): Luận án Những đổi mới cơ bản của thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay khảo sát đổi mới quan niệm thơ, cảm hứng thơ và một số phương diện hình thức nghệ thuật, chỉ ra đặc điểm đa thanh, đa cực của nền thơ.
  • Nguyễn Thanh Tâm (2011): Luận án Sự thâm nhập của chất văn xuôi vào thơ Việt Nam đương đại tập trung vào con đường dẫn văn xuôi vào thơ, dạng thức biểu hiện của chất văn xuôi và hiệu ứng thẩm mỹ của ký ức thể loại.
  • Nguyễn Vũ Tiềm: Tiểu luận Thơ cách tân và thi pháp nghệ thuật mới phân định thơ cách tân đầu thế kỷ XXI theo bốn dòng chảy và liệt kê mười đặc điểm hình thức, thi pháp.
  • Trần Thiện Khanh: Bài viết Cấu trúc nhịp thơ và quan hệ của nó với đổi mới thơ làm rõ nhịp điệu của ngữ cảnh và nhịp điệu biểu hiện cá tính chủ thể trong thơ hiện đại.
  • Đoàn Ánh Dương: Bài viết nghiên cứu về nhịp điệu thơ đương đại, nhìn nhận thơ hiện đại như một cấu trúc chỉnh hợp kế thừa và biến đổi giữa thơ cổ và thơ lãng mạn.

2. Hướng nghiên cứu các trường hợp tác giả, tác phẩm cụ thể

Luận án thống kê các chặng tranh luận và đánh giá tác phẩm từ sau tuyên bố "cởi trói" văn nghệ năm 1987 của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh:

  • Giai đoạn 1986–1989: Xuất hiện các tác phẩm mở đầu đổi mới như Ánh trăng, Đánh thức tiềm lực (Nguyễn Duy), Tự hát (Xuân Quỳnh), Người đàn bà ngồi đan (Ý Nhi), Hoa trên đá (Chế Lan Viên), Tản mạn thời tôi sống (Nguyễn Trọng Tạo). Kế tiếp là các tập thơ gây tranh luận gay gắt: Lối nhỏ (Dư Thị Hoàn - ý kiến của Văn Tân, Chu Văn Sơn), Ngựa biển (Hoàng Hưng - ý kiến của Nguyễn Văn Lưu), 36 bài tình (Lê Đạt - Dương Tường - phê bình của Nguyễn Văn Lưu, Hà Minh Đức), Bến lạ (Đặng Đình Hưng), Đêm mặt trời mọc (Nguyễn Quốc Chánh).
  • Thập niên 1990: Xuất hiện các tập thơ cách tân theo hướng hiện đại chủ nghĩa: Bóng chữ (Lê Đạt), Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Ô mai (Đặng Đình Hưng), Sự mất ngủ của lửa (Nguyễn Quang Thiều), Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm). Các hiện tượng này tạo nên hai luồng ý kiến đối lập: phê phán quyết liệt (Trần Mạnh Hảo coi là "thơ hũ nút", "phi thơ") và kiến giải học thuật dựa trên phân tâm học, văn hóa học (Đỗ Lai Thúy chỉ ra mặc cảm Ê-đíp trong Về Kinh Bắc; Nguyễn Đăng Điệp và Chu Văn Sơn phân tích lối viết tự động và trầm tích văn hóa).
  • Giai đoạn từ sau 1995 đến đầu thế kỷ XXI: Các thể nghiệm thơ tiếp tục mở rộng với Người đi chăn sóng biển (Văn Cầm Hải), Ngó lời thơ Haikâu (Lê Đạt), Mùa sạch (Trần Dần), Giọng nói mơ hồ (Nguyễn Hữu Hồng Minh). Đầu năm 2001, các tập thơ Khát, Linh, Đồng Tử của Vi Thùy Linh tạo làn sóng tranh luận giữa hai luồng tiếp nhận (Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Tô Hoàng ủng hộ; Hoàng Xuân Tuyền, Chu Thị Thơm phê phán). Các tác giả trẻ khác được dư luận quan tâm gồm: Phan Huyền Thư (Nằm nghiêng, Rỗng ngực), Lãng Thanh (Hoa), Nguyễn Thúy Hằng (Thời hôm nay), Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Miên Di, Lữ Thị Mai, Nguyễn Phong Việt.
  • Các luận văn, luận án về tác giả cụ thể: Nguyễn Mai Hương Trà (2007), Trần Thị Huyền Phương (2001) nghiên cứu Hoàng Cầm; Lưu Thị Thu Hà (2007) nghiên cứu Lê Đạt; Văn Thị Kiều Vương (2010) nghiên cứu thơ tự do của Lê Thị Mây, Dư Thị Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên.
Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu Tên công trình / Đề tài Hướng tiếp cận chính
Tiến trình & Tổng quát Lê Lưu Oanh (1998)
Phạm Quốc Ca (2003)
Trần Quang Đạo (2008)
Đặng Thu Thủy (2008)
Nguyễn Thanh Tâm (2011)
Thơ trữ tình VN 1975 - 1990
Mấy vấn đề về thơ VN 1975 - 2000
Những khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật thơ...
Những đổi mới cơ bản của thơ trữ tình VN...
Sự thâm nhập của chất văn xuôi vào thơ VN...
Kiểu nhà thơ, cái tôi trữ tình
Đặc điểm hệ thống, hiện đại hóa
Khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật
Quan niệm, cảm hứng, hình thức
Chất văn xuôi và ký ức thể loại
Lý luận - Kỹ thuật thơ Nguyễn Vũ Tiềm
Trần Thiện Khanh
Đoàn Ánh Dương
Thơ cách tân và thi pháp nghệ thuật mới
Cấu trúc nhịp thơ và quan hệ với đổi mới thơ
Khảo sát nhịp điệu thơ đương đại
Bốn dòng chảy, mười đặc điểm cách tân
Nhịp điệu ngữ cảnh, cá tính chủ thể
Cấu trúc chỉnh hợp chập đôi
Trường hợp tác giả, tác phẩm Đỗ Lai Thúy, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Hà Minh Đức, Trần Mạnh Hảo... Các bài viết về Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh... Phân tâm học, văn hóa học, thi pháp ngôn từ, tranh luận tiếp nhận

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng hợp các công trình trên cho thấy, giới nghiên cứu đã bao quát tiến trình lịch sử hoặc khai thác từng hiện tượng, từng phương diện kỹ thuật riêng biệt. Chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống sự vận động của thơ Việt Nam từ sau năm 1986 dưới góc nhìn thể loại (bao gồm cả phương thức chiếm lĩnh hiện thực và thể thức cấu tạo văn bản). Luận án của Nguyễn Thị Dịu được triển khai nhằm bổ khuyết khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Bản chất thể loại của thơ: Thơ thuộc phương thức trữ tình (phân biệt với phương thức tự sự và kịch). Nguyên tắc cốt lõi của tác phẩm trữ tình là tính chủ quan trong chiếm lĩnh hiện thực và bộc lộ trực tiếp ý thức, cảm xúc của chủ thể trữ tình (nhân vật trữ tình). Hiện thực trong thơ là hiện thực tâm trạng, cảm xúc bên trong tâm hồn con người. Do đó, thơ không có cốt truyện như tự sự, dung lượng văn bản thường cô đọng, ngôn từ giàu hình ảnh, nhịp điệu và có tính hàm súc cao.
  • Lý thuyết đối thoại và độc thoại: Tiếp thu luận điểm của M. Bakhtin về sự phân biệt giữa thơ (tiếng nói độc bạch - monologique) và tiểu thuyết (tiếng nói đối thoại nhiều bè - dialogique).
  • Quan niệm lịch sử về thơ: Điểm lại quan niệm về thơ từ phương Tây cổ đại (Aristote trong Ars Poetica), phương Đông cổ đại (Tào Phi trong Điển luận văn, Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long), các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Phan Phu Tiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan), các nhà thơ hiện đại thế giới (Lamartine, Sully Prudhomme, Emily Dickinson, Johannes Becher, Shelley, Salvatore Quasimodo, T.S. Eliot, Edgar Allan Poe, Coleridge, Paul Valéry) và giới nghiên cứu - sáng tác Việt Nam (Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Sóng Hồng, Tố Hữu, Phan Ngọc, Hoài Thanh).
  • Tính tiếp biến và tương tác thể loại: Thơ vừa có tính ổn định loại hình, vừa là hiện tượng lịch sử vận động không ngừng; có sự tương thông với các thể loại tự sự (trường ca, truyện thơ, thơ văn xuôi) và các loại hình nghệ thuật khác (âm nhạc qua "thi trung hữu nhạc", hội họa qua "thi trung hữu họa").
  • Các lý thuyết hỗ trợ: Luận án vận dụng lý thuyết tiếp nhận, nữ quyền luận, phê bình sinh thái và phân tâm học để soi chiếu các hiện tượng thơ cụ thể.

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng năm phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp nghiên cứu thi pháp học thể loại: Nghiên cứu chỉnh thể tác phẩm trên cả hai bình diện nội dung và hình thức văn bản để làm rõ thi pháp thể loại.
  2. Phương pháp thống kê, phân loại: Thao tác hóa và hệ thống hóa khối lượng tác phẩm, tác giả trong hơn ba mươi năm nhằm nhận diện các tiểu loại thơ.
  3. Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Phân tích các sáng tạo thẩm mỹ cụ thể nhằm rút ra đặc điểm thể loại và đưa ra các dự báo vận động.
  4. Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện so sánh đồng đại và lịch đại (đối chiếu thơ sau 1986 với thơ trung đại, Thơ mới 1932–1945, thơ 1945–1975 và thơ 1975–1986).
  5. Phương pháp liên ngành: Đặt thơ sau 1986 trong mối liên hệ với xã hội học, văn hóa học, tâm lý học và các loại hình nghệ thuật khác (hội họa, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu).

3. Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu khảo sát bao gồm: các tập thơ đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và các tổ chức văn chương từ sau 1986; các tác phẩm gây tranh luận của các tác giả thuộc nhiều thế hệ (Nguyễn Duy, Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải...); các tuyển tập thơ do các nhà xuất bản uy tín phát hành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết thể loại và phác họa bức tranh toàn cảnh tiến trình lịch sử thơ ca Việt Nam qua các giai đoạn:

  • Thơ thời trung đại: Vận động trong hệ thống thi pháp quy phạm với ba đặc tính cốt lõi: tính ước lệ - tượng trưng (sử dụng tín hiệu thẩm mỹ cổ điển), tính tập cổ (tuân thủ niêm luật nghiêm ngặt của các thể thơ Đường luật), và tính phi ngã (thể hiện cái "ta" đạo đức quân - thần, thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo).
  • Thơ từ đầu thế kỷ XX đến 1945: Hoàn tất công cuộc chuyển đổi sang thơ hiện đại thông qua phong trào Thơ mới (1932–1945). Thơ chuyển từ cái "ta" phi ngã sang cái "tôi" bản ngã tự do; tiếp thu ảnh hưởng của các trường phái văn học Pháp (Lãng mạn, Parnasse/Thi sơn, Tượng trưng, Siêu thực); thể thơ tự do xác lập vị thế chủ đạo.
  • Thơ từ 1945 đến 1975: Có sự gián đoạn trong vận động cách tân hình thức.
    • Tại miền Bắc (1945–1954): Văn nghệ phục vụ kháng chiến và đại chúng công - nông - binh; cảm hứng sử thi và công dân chi phối; thơ ưu tiên các thể thơ truyền thống giàu vần điệu (lục bát, song thất lục bát, năm chữ); thơ không vần và thơ văn xuôi bị từ chối (tiêu biểu là phê bình thơ không vần của Nguyễn Đình Thi tại Hội nghị Văn nghệ bộ đội 1949).
    • Tại miền Bắc (1954–1975): Mở rộng cái tôi thế hệ; sự trở lại của thơ không vần, thơ văn xuôi và sự định hình của thể loại trường ca (Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu).
    • Tại miền Nam (1954–1975): Vận động theo nhận xét của Võ Phiến là "trước tự do sau khuôn khổ" (giai đoạn 1954–1963 với Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng phá cách, chịu ảnh hưởng hiện sinh và siêu thực; giai đoạn 1964–1975 trở về khuôn khổ, vần điệu truyền thống).
  • Thơ từ 1975 đến trước 1986: Giai đoạn dò tìm sự thay đổi của thế hệ nhà thơ hậu chiến. Xuất hiện sự chuyển dịch từ cái "ta" sử thi sang cái "tôi" đời thường thông qua cách dùng đại từ nhân xưng linh hoạt ("bạn bè", "đồng đội", "mình", "mày - tao"); xuất hiện ý thức tự đổi mới hình thức thể loại (như trăn trở "soi thêm lỗ cho cây sáo cũ" của Chế Lan Viên trong Di cảo thơ).
  • Thơ từ sau 1986 đến nay: Hành trình thể nghiệm mới với sự đa dạng của các thế hệ sáng tác, phá vỡ các chuẩn mực truyền thống.
Giai đoạn lịch sử Kiểu chủ thể trữ tình Thể thơ chủ đạo Đặc điểm thi pháp nổi bật
Thơ Trung đại Cái "ta" phi ngã, tính quy phạm Thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát Ước lệ - tượng trưng, tập cổ, ngôn chí tải đạo
1932 - 1945 (Thơ mới) Cái "tôi" cá nhân, giải phóng bản ngã Thơ tự do, các thể thơ biến thể Tự do hóa cấu trúc, nhạc tính phong phú, chịu ảnh hưởng thơ phương Tây
1945 - 1954 Cái "ta" công dân, đại chúng công - nông - binh Lục bát, song thất lục bát, 5 chữ Giản dị, giàu vần điệu, phục vụ tuyên truyền chính trị
1954 - 1975 (Miền Bắc) Cái tôi sử thi, cái tôi thế hệ Thơ tự do, trường ca, thể thơ truyền thống Kết hợp tính tự sự và triết luận, tiếp mạch hiện đại hóa
1954 - 1975 (Miền Nam) Ý thức cá nhân, hiện sinh Thơ tự do (1954-1963), trở về thể có luật (1964-1975) Ảnh hưởng hiện sinh, siêu thực; nhịp điệu ý thức
1975 - trước 1986 Cái tôi chuyển tiếp, nhòe mờ giữa "ta" và "tôi" Thơ tự do, thơ truyền thống Dò tìm đổi mới, đưa chất liệu đời thường vào thơ
Sau 1986 đến nay Cái tôi bản thể, phái tính, suy tư, dấn thân Đa dạng: lục bát lạ hóa, thơ tự do, tân hình thức, hậu hiện đại, Haiku Đa cực, đa thanh, cấu trúc động, đề cao tạo nghĩa của con chữ, nhịp điệu thay thế vần

Chương 2. Thơ Việt Nam sau 1986 với nhu cầu trữ tình mới

Chương 2 luận giải các tiền đề lịch sử - văn hóa và sự thay đổi của hệ hình trữ tình:

  • Không gian lịch sử - xã hội - văn hóa: Đất nước hòa bình, bước ra khỏi chiến tranh và đối diện với những khó khăn kinh tế hậu chiến (dân số 54,37 triệu người năm 1980). Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) khởi xướng công cuộc Đổi mới và mở cửa, chuyển sang kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, xóa bỏ cơ chế bao cấp về tư tưởng.
  • Tâm lý thế sự chiếm lĩnh trạng thái đời sống: Con người rời khỏi "dàn đồng ca" sử thi để trở về với đời sống thường nhật phồn tạp, nhiều nghịch lý, có sự đan xen giữa thiện và ác, thật và giả. Trạng thái mất điểm tựa và tâm lý hoài nghi, đổ vỡ lòng tin trong giai đoạn khủng hoảng được phản ánh trực tiếp trong thơ (tiêu biểu qua tác phẩm của Chế Lan Viên).
  • Nhận thức giá trị tự thân và văn hóa dân tộc: Ý thức cá nhân - bản ngã được phục hồi; nhu cầu khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong tiến trình hội nhập toàn cầu hóa.
  • Sự dịch chuyển của chủ thể trữ tình:
    • Chủ thể trữ tình "cái ta - cộng đồng dân tộc" mất vị trí độc tôn.
    • Sự nổi bật của chủ thể trữ tình "cái tôi - bản thể" với nhu cầu phơi bày mọi trạng thái tâm lý chân thực.
    • Chủ thể trữ tình "cái tôi - phái tính" phát triển mạnh mẽ, đặc biệt qua tiếng nói nữ quyền (thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Dư Thị Hoàn...).
    • Chủ thể trữ tình xác lập giá trị tinh thần theo quan điểm cá nhân: "cái tôi - suy tư", chiêm nghiệm thế sự và "cái tôi - dấn thân" tìm tòi hình thức nghệ thuật mới.

Chương 3. Thơ Việt Nam sau 1986 phong phú về hình thức thể loại

Chương 3 khảo sát diện mạo đa dạng của các dạng thức thể loại:

  • Sự hiện diện bình đẳng của các thể thơ:
    • Thể lục bát được "lạ hóa": Vẫn giữ khung khổ âm luật truyền thống nhưng phá vỡ cách ngắt nhịp chẵn cổ điển (2/2/2, 4/4), đưa vào cách ngắt nhịp lẻ, vắt dòng, đổi mới hệ thống hình ảnh và thi liệu đời thường.
    • Các thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ: Thu hẹp phạm vi trong thơ người lớn, được sử dụng chủ yếu trong mảng thơ viết cho thiếu nhi.
    • Sự trở lại của thể thơ Đường: Được một bộ phận tác giả kế thừa và làm mới về cảm quan hiện đại.
    • Thể thơ Haiku hội nhập: Thể thơ truyền thống Nhật Bản được các nhà thơ Việt Nam thể nghiệm (tiêu biểu với tập Ngó lời thơ Haikâu của Lê Đạt).
    • Thơ tự do: Phát triển nở rộ với nhiều biến thể cấu trúc.
  • Cấu trúc "động" và sự giao thoa thể loại: Sự xuất hiện của các dạng thức thơ mới như Thơ tân hình thức (với kỹ thuật vắt dòng - enjambment, sử dụng ngôn ngữ đời thường, lặp lại) và Thơ hậu hiện đại (giải cấu trúc, phân mảnh, liên văn bản, dung nạp ngôn ngữ đời sống).
  • Cấu trúc "động" của câu thơ và dòng thơ: Câu thơ trong cả thể thơ có luật lẫn thơ tự do được tổ chức linh hoạt; xóa bỏ dấu câu, tổ chức bậc thang, ngắt dòng bất thường tạo nên hiệu ứng thị giác và nhịp điệu linh hoạt.

Chương 4. Thơ Việt Nam sau 1986 - một số đột phá trong cấu trúc hình tượng, ngôn ngữ, vần, nhịp

Chương 4 phân tích các yếu tố thi pháp bên trong của tác phẩm:

  • Tính lỏng lẻo trong cấu trúc hình tượng thơ: Hình tượng không còn tính đơn nhất hay xây dựng theo mạch logic nhân quả tuyến tính mà được kiến tạo bởi suy tư triết lý, hệ thống biểu trưng đa nghĩa, cùng những cảm giác tâm linh, ẩn ức vô thức (tiếp cận phân tâm học).
  • Đề cao vai trò tạo nghĩa của chữ:
    • Nghĩa được tạo sinh từ sự vang ngân của con chữ.
    • Nghĩa được tạo sinh từ thao tác sắp đặt, "làm chữ", "phu chữ" (quan niệm của Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường).
    • Nghĩa được tạo sinh từ sự kết hợp đa tầng cảm giác và ấn tượng giác quan.
    • Nghĩa được tạo sinh từ những lắp ghép chữ ngẫu hứng, phá vỡ trật tự ngữ pháp thông thường.
  • Xu thế thay đổi vần bằng nhịp điệu: Giảm dần vai trò cố định của vần chân, chuyển dịch trọng tâm sang nhịp điệu bên trong của dòng cảm xúc và tư tưởng; kiến tạo nhịp điệu mới cho thể lục bát và tổ chức nhịp điệu phi đối xứng trong thơ văn xuôi.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ vào phần công bố của tác giả, luận án mang lại các đóng góp mới sau:

  1. Về mặt lý luận: Trên cơ sở khảo sát các quan điểm lý thuyết Đông - Tây và lịch sử thơ dân tộc, luận án xác lập hệ thống đặc trưng cơ bản của thơ dưới góc nhìn thể loại; đồng thời tổng kết thực trạng nghiên cứu để chỉ ra khoảng trống khoa học về thể loại thơ sau 1986.
  2. Về mặt mô tả và phân tích thực tiễn: Luận án làm rõ diện mạo thơ Việt Nam từ sau 1986 trên cả hai bình diện cấu trúc: phương thức chiếm lĩnh, tái hiện đời sống (sự biến chuyển của chủ thể trữ tình và cảm hứng thơ) và thể thức cấu tạo văn bản (sự phong phú của các thể thơ, cấu trúc câu dòng, hình tượng, ngôn ngữ, vần và nhịp).
  3. Về mặt quy luật và định hướng thẩm mỹ: Luận án đánh giá vị trí của thơ sau 1986 trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam; nhận diện các quy luật vận động phổ quát của thơ đương đại (quy luật giao lưu hội nhập, sự tương tác thể loại, nhu cầu công chúng, khát vọng sáng tạo của nhà thơ); góp phần định hướng thẩm mỹ tiếp nhận đa dạng cho độc giả trước các hiện tượng cách tân.
  4. Về mặt ứng dụng: Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo cho hoạt động học tập, giảng dạy, nghiên cứu thơ Việt Nam hiện đại và đưa ra những gợi ý về thể loại cho giới sáng tác thi ca.
  5. Kiến nghị khoa học: Luận án đề xuất giới phê bình và công chúng cần đổi mới tư duy tiếp nhận, tránh thái độ quy chụp đối với các thể nghiệm hình thức mới; nhìn nhận các hiện tượng cách tân trong tính quy luật vận động nội tại của thể loại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Theo phạm vi xác lập trong văn bản, luận án tập trung chủ yếu vào các dạng thức thơ trữ tình ngắn và trung bình. Dạng thức biến thể quy mô lớn như "trường ca" - thể loại có sự kết hợp đặc thù giữa tự sự và trữ tình - chỉ được đề cập khái quát mà chưa đi sâu khảo sát toàn diện (tác giả xác định sẽ giải quyết ở một công trình chuyên biệt khác). Ngoài ra, do khối lượng tác phẩm đồ sộ, phạm vi khảo sát ưu tiên các tác phẩm đoạt giải và các tập thơ xuất bản chính thức, chưa thể bao quát toàn bộ các thể nghiệm thơ xuất hiện rải rác trên không gian mạng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thể loại trường ca sau 1986; đi sâu khảo sát các hình thức thơ thị giác, thơ trình diễn và thơ kỹ thuật số trong kỷ nguyên truyền thông đa phương tiện.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo văn học:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học Việt Nam và Lý luận văn học: Cung cấp khung phương pháp thi pháp học thể loại hệ thống, bảng phân loại các thể thơ đương đại và nguồn tư liệu tác phẩm, tác giả phong phú giai đoạn 1986–2021.
  • Đối với giảng viên đại học và cao đẳng: Phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng các chuyên đề: Tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, Thi pháp học, Phân tích tác phẩm thơ và Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
  • Đối với giới phê bình và nhà sáng tác: Cung cấp góc nhìn hệ thống về quy luật vận động thể loại, kỹ thuật tổ chức ngôn từ, cấu trúc câu dòng và nhịp điệu thơ đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi khảo sát tư liệu như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là "Thơ Việt Nam sau 1986 từ góc nhìn thể loại". Phạm vi tư liệu ưu tiên khảo sát ba nhóm nguồn chính: các tác phẩm đoạt giải trong các cuộc thi thơ của các tổ chức văn chương uy tín từ sau 1986; các tác phẩm đóng góp vào sự vận động đổi mới thơ gây chú ý trong dư luận; các tuyển tập thơ do các nhà xuất bản uy tín tuyển chọn. Luận án cũng mở rộng đối chiếu với thơ giai đoạn trước và khảo sát các hiện tượng thể nghiệm mới.

2. Những khoảng trống trong các nghiên cứu trước năm 2021 về thơ sau 1986 được luận án chỉ ra là gì?

Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây (như của Vũ Tuấn Anh, Lê Lưu Oanh, Phạm Quốc Ca, Trần Quang Đạo, Đặng Thu Thủy, Nguyễn Thanh Tâm...) thường tiếp cận thơ theo lát cắt lịch sử, phân chia khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật, đi sâu vào một phương diện đơn lẻ (như chất văn xuôi, nhịp điệu) hoặc tập trung nghiên cứu từng tác giả, tác phẩm cụ thể. Khoảng trống tồn tại là chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, chuyên biệt diện mạo thơ Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn thi pháp học thể loại.

3. Sự chuyển biến của chủ thể trữ tình sau 1986 được luận án phân tích qua những dạng thức nào?

Chủ thể trữ tình sau 1986 có sự chuyển dịch căn bản: cái "ta" cộng đồng mất vị trí độc tôn; thay vào đó là sự xuất hiện của "cái tôi - bản thể" (bộc lộ thế giới nội cảm và giá trị tự thân), "cái tôi - phái tính" (ý thức nữ quyền và tính dục), "cái tôi - suy tư" (chiêm nghiệm trước các biến động thế sự) và "cái tôi - dấn thân" (khát vọng cách tân ngôn ngữ và hình thức thơ).

4. Các khuynh hướng đổi mới về hình thức thể loại thơ sau 1986 được làm rõ ở những phương diện nào?

Luận án phân tích sự đổi mới hình thức qua: sự hiện diện bình đẳng của các thể thơ (lục bát "lạ hóa", thể 4-5-6 chữ trong thơ thiếu nhi, sự trở lại của thơ Đường, sự du nhập của thể thơ Haiku); sự phát triển của thơ tự do; cấu trúc "động" và sự giao thoa thể loại trong Thơ tân hình thức và Thơ hậu hiện đại; cấu trúc "động" của câu thơ và dòng thơ thông qua kỹ thuật vắt dòng và tổ chức thị giác văn bản.

5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?

Luận án phối hợp năm phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp thi pháp học thể loại; phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp phân tích tác phẩm văn học; phương pháp so sánh, đối chiếu (lịch đại và đồng đại); phương pháp liên ngành (kết hợp văn học với xã hội học, văn hóa học, tâm lý học và các loại hình nghệ thuật khác).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thơ Việt Nam từ sau 1986 dưới góc nhìn thể loại" của tác giả Nguyễn Thị Dịu là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiến trình vận động của thơ ca Việt Nam thời kỳ đổi mới. Bằng phương pháp thi pháp học thể loại và cách tiếp cận liên ngành, tác giả đã hệ thống hóa sự chuyển biến toàn diện của thơ sau 1986 từ nhu cầu trữ tình mới, sự trỗi dậy của chủ thể cái tôi bản thể, đến diện mạo phong phú của các thể thơ và các tìm tòi về ngôn ngữ, hình tượng, vần và nhịp điệu. Công trình làm rõ vị trí của thơ sau 1986 trong dòng chảy hiện đại hóa văn học dân tộc, cung cấp khung lý thuyết và nguồn ngữ liệu cho nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.