LỜI MỞ ĐẦU. Chính sách tài khóa là một trong những công cụ quan trọng để nhà nước can thiệp, điều chỉnh kinh tế vĩ mô.Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam đến với nhiều cơ hội phát triển lớn mạnh; đồng thời cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Đối với một quốc gia còn hạn chế về nguồn lực như Việt Nam đòi hỏi chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tài khóa nói riêng phải có những bước thay đổi linh hoạt để phù hợp với yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới. Năm 2017, Chính phủ tiếp tục thực hiện CSTK chặt chẽ, triệt để tiết kiệm.
Tăng cường công tác quản lý giá, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước; thúc đẩy đổi mới khu vực sự nghiệp công lập; thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các loại hình thị trường tài chính; hiện đại hóa và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của ngành Tài chính. Do vậy, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần chú trọng tới vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô hơn là một tốc độ tăng trưởng cao, theo đó duy trì mức tăng trưởng khoảng 6- 7%. CSTK thực hiện theo hướng tăng cường quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm chi thường xuyên, dành nguồn lực hợp lý cho đầu tư phát triển để hoàn thiện hệ thống hạ tầng trên toàn quốc nhằm phát triển đồng đều và giảm những chênh lệch quá lớn về mức sống của các tầng lớp dân cư. Tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm nguồn vốn NSNN được sử dụng có hiệu quả.
Mặt khác, trong phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay do chịu nhiều tác động của các yếu tố nội tại và tình hình kinh tế quốc tế, bên cạnh những thuận lợi vẫn còn những khó khăn thách thức không nhỏ. Vì vậy các chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó có CSTK cần phải được nghiên cứu và vận dụng một cách khoa học nhất để điều chỉnh kịp thời nền kinh tế khi có những biến động, đảm bảo ổn định và tăng trưởng bền vững. Từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu lý luận về thực tiễn về CSTK cùng với những tác động của nó tới nền kinh tế là cần thiết khách quan, qua đó làm rõ những luận cứ khoa học và thực tiễn trong việc hoàn thiện CSTK, đảm bảo góp phần giải quyết vấn đề trong phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, nhóm chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Phân tích những thành công và hạn chế của CSTK ở Việt Nam” nhằm góp phần nhất định vào nghiên cứu, nhận thức và vận dụng một cách khoa học nhất CSTK trong thực tiện ở Viêt Nam hiện nay.
II/CƠ SỞ LÝ THUYẾT.Các khái niệm cơ bản : 1.1 – Khái niệm kinh tế vĩ mô: Kinh tế vĩ mô là ngành của kinh tế học nghiên cứu hoạt động của nền kinh tế với tư cách một tổng thể. Các phân tích kinh tế vĩ mô thường tập trung nghiên cứu vào cơ chế hoạt động của nền kinh tế và xác định các yếu tố chiến lược quy định thu nhập và sản lượng quốc dân, mức sử dụng lao động, giá cả và sự biến động của chúng.2 – Khái niệm chính sách tài khoá: Chính sách tài khoá có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khoá và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát. Nói cách khác, chính sách tài khoá là những nỗi lực của chính phủ và thuế.3 – Đặc điểm của chính sách tài khoá: Chính sách tài khoá có các đặc điểm khó tính toán được một cách chính xác liều lượng của chính sách. Ví dụ kích cầu thì độ lớn của gói chính sách khó xác định chính xác, bởi có tính chủ quan của người quyết định chính sách do có sự khác nhau về quan điểm, cách đánh giá các sự kiện kinh tế, từ đó đưa ra chính sách tài khoá khác nhau.
Ngoài ra, Chính sách tài khoá còn có đặc điểm về độ trễ khá lớn về mặt thời gian do sự tác động của các yếu tố bên trong như thời gian thu thập, xử lí thông tin và ra quyết định chính sách và các yếu tố bên ngoài bao gồm quá trình phổ biến, thực hiện và phát huy tác dụng của chính sách. Bên cạnh đó chính sách tài khoá cũng có những hạn chế trong thực tế như tính không hiệu quả, vấn đề tháo (thoái) lui đầu tư, vấn đề ngân sách,. Mục tiêu và công cụ của chính sách tài khoá: Chính sách tài khóa có 2 mục tiêu chính : -Thứ nhất: Thúc đẩy tăng trưởng sản lượng quốc gia. -Thứ hai : Giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Ngoài hai mục tiêu này,việc tác động vào các thành phần của tổng chi tiêu cũng sẽ tác động tới trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hóa và tác động lên giá cả thị trường.Do đó việc thực hiện CSTK cũng góp phần thực hiện mục tiêu nữa là điều tiết giá thị trường. Trong dài hạn CSTK có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn thông qua tác động đến cơ cấu đầu tư của nền kinh tế trong dài hạn.1 – Công cụ của chính sách tài khoá: Để thực hiện chính sách tài khoá, Chính phủ sử dụng hai công cụ chính là chi tiêu của Chính phủ và thuế. -Chi tiêu của Chính phủ (G) : sự thay đổi trong chi tiêu của Chính phủ ảnh hưởng trực tiếp đến tổng chi tiêu của toàn xã hội, vì G là một bộ phận của tổng chi tiêu. * Thu ngân sách nhà nước: a.
Khái niệm thu NSNN - Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đặc điểm thu NSNN. - Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN được thực hiện gắn liền với quyền lực của nhà nước (Nhà nước quyết định mức thu, nội dung thu và cơ cấu thu chi ngân sách Nhà nước) và việc thực hiện các thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. -Thu NSNN gắn chặt với thực trạng của nền kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất.
-Thu NSNN chủ yếu nhằm vào phần giá trị sản phẩm mới được tạo ra từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh và được động viên vào Quỹ ngân sách thông qua phân phối lần đầu và phân phối lại, trong đó phân phối lại là chủ yếu.Phân loại thu ngân sách Nhà nước. -Thu ngân sách Nhà nước được chia thành thu trong nước và thu từ nước ngoài. +Trong đó nguồn thu từ trong nước chiếm tỉ trọng lớn và đóng vai trò rất quan trọng đối với tổng thu ngân sách Nhà nước. +Thu từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng tuy nhiên chiếm tỉ trọng không lớn và không phải quyết định.
*Chi ngân sách nhà nước. Khái niệm chi NSNN -Chi ngân sách nhà nước là việc Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện chức năng của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội theo các nguyên tắc nhất định. Đặc điểm của chi NSNN -Chi NSNN đảm bảo hoạt động bộ máy nhà nước, hình thành khuôn khổ luật pháp, cung cấp những địch vụ hành chính pháp lý. -Chi NSNN sản xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân.
- Chi NSNN cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng như đầu tư xây dựng hệ thống đường cao tốc, giáo dục quốc phòng, bảo vệ trật tự xã hội. -Chi NSNN đóng vai trò tích cực trong phân phối lại thu nhập thông qua các chương trình hỗ trợ công cộng và bảo hiểm xã hội. Phân loại chi ngân sách nhà nước -Căn cứ vào tính chất các khoản chi + Chi thường xuyên: là khoản chi có tính đều đặn, liên tục gắn với nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội. +Chi đầu tư phát triển : là khoản chi nhằm tạo cơ sở vật chất kĩ thuật, có tác dụng làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
+ Chi trả nợ, viện trợ: bao gồm các khoản chi để Nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế. + Chi dự trữ Nhà nước - Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ +Chi tích luỹ: là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế +Chi tiêu dùng: là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai. -Thuế (T): Là hình thức chủ yếu của thu ngan sách nhà nước. Thuế là nguồn thu bắt buộc để đáp ứng chi tiêu của nhà nước.
Khi Chính phủ tăng thuế hoặc giảm thuế, chẳng hạn như thuế thu nhập cá nhân hay thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tác động đến thu nhập của người dân và doanh nghiệp dẫn đến sự thay đổi của chi tiêu cho tiêu dung và cho đầu tư. Kết quả là tổng cầu, sản lượng, việc làm và giá cả thay đổi. +Thuế trực thu còn được biết tới với tên gọi khác là Direct Tax. Đó là một loại thuế tính trên lợi ích, khoản thu nhập có được trong trong một giai đoạn có định và được thu trực tiếp.
Đối tượng nộp thuế ở đây thường là những cá nhân, doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế nhất định. +Thuế gián thu trong tiếng Anh gọi là Indirect tax. Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ. *Cơ chế tác động của CSTK Thông qua số nhân chi tiêu Sản lượng Tác động CSTK (Chính phủ sử Giá cả Tác dụng THUẾ động AE Tác động và CHI TIÊU CÔNG) Tác động Việc làm a.
Khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp cao. -Mục tiêu: Thúc đẩy tăng trưởng ( tăng sản lượng ), giảm thất nghiệp. -Công cụ: Dùng CSTK mở rộng ( tăng G, giảm T). -CSTK mở rộng: Tăng tổng chi tiêu sản lượng cân bằng tăng thất nghiệp giảm, nhưng giá cả chung lại tăng lên tăng trưởng kèm theo lạm phát.
Tác động của chính sách tài khoá mở rộng b.