Chương I đã khái quát mục tiêu nghiên cứu, đó là những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc, và nếu như có nhận thức đầy đủ những rủi ro có thể xảy ra khi tiêu dùng thuốc lá thì thái độ, nhận thức, hành vi và mức độ hút thuốc lá của nam thanh niên sẽ như thế nào? Nội dung Chương II trình bày các lý thuyết liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi làm cơ sở đánh giá, giải thích việc hình thành nên nhận thức, thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Đồng thời trình bày các khái niệm có liên quan đến việc hút thuốc lá, các nghiên cứu trước đây có liên quan và các chính sách, biện pháp của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc thực hiện Chính sách quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá.1 Lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết hành vi vấn đề (Problem Behavior Theory - PBT) Các lý thuyết về hành động lý luận cho rằng ý định (động lực) để thực hiện một hành vi nhất định phụ thuộc vào việc cá nhân đánh giá các hành vi như tích cực (thái độ), và nếu họ phán xét người khác như họ muốn thực hiện hành vi (tiêu chuẩn chủ quan). Lý thuyết hành vi vấn đề (Jessor, 2001) xây dựng dựa trên lý thuyết này và cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện dưới sự kiểm soát có mục đích và hành vi có thể được thực hiện trên một sự liên tục từ tổng kiểm soát để hoàn thành thiếu kiểm soát. Cả hai yếu tố nội bộ (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và các yếu tố bên ngoài (tình huống hoặc môi trường) xác định mức độ kiểm soát.
Lý thuyết này phân tích những vấn đề liên quan đến hành vi và từng hành vi có vấn đề. Hành vi hút thuốc lá khi đã có kiến thức, thái độ và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe của bản thân và của cộng đồng xã hội đều coi như hành vi có vấn đề.2 Lý thuyết về hành vi dự định (The theory of Planned Behavior - TPB) Lý thuyết về hành vi dự định (hành vi kế hoạch - TPB) (Ajzen 1991; Ajzen & Fishbein, 2005) xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình của lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Rational Action – TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được; yếu tố về thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng). Lý thuyết về hành vi dự định nhấn mạnh rằng, hành vi của con người bị chi phối không chỉ bởi thái độ cá nhân, mà còn bởi các áp lực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi.
Mô hình này, khi kết hợp với một vài thay đổi, có thể tạo ra một số dự đoán đáng chú ý. Ví dụ, cá nhân có nhiều khả năng để thực hiện chứ không phải bỏ ý định của họ (Cooke & Sheeran, 2004). Bên cạnh đó, lý thuyết này cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện bởi quyền kiểm soát có mục đích và rằng mọi hành vi có thể thực hiện liên tục theo kiểm soát dễ trở thành sự thiếu kiểm soát. Cả những yếu tố bên trong (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và những yếu tố bên ngoài (xử lý tình huống hoặc môi trường) sẽ được áp dụng nhằm xác định mức độ kiểm soát.
Thành phần nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi.1: Thuyết hành vi dự định (TPB) Niềm tin Thái độ hành vi hướng tới hành vi Niềm tin Tiêu chuẩn quy chuẩn chủ quan Ý định Hành vi Niềm tin Sự kiểm soát kiểm soát hành vi nhận Kiểm soát thức được hành vi thực tế (Nguồn: website của Ajen: http://www.edu/aizen/tpb.html) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Một số khái niệm, quy định và thông tin liên quan 2.1 Khái niệm nhận thức, thái độ và hành vi 2.1 Nhận thức Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về nhận thức, như: Nhận thức: (1) danh từ: nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó. Nhận thức: nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực xung quanh ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ tình cảm và hành động. Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp (Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại học Sư phạm).2 Thái độ Thái độ (danh từ): (1) là tổng thể chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm của con người đối với người hoặc việc.3 Hành vi Hành vi (danh từ) là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách ứng xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.1 Thuốc lá Thuốc lá là một loại cây có độc, nhất là những lá già, có hàm lượng Nicotin cao. Theo quy định tại Điểm 1 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá, thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác.2 Sử dụng thuốc lá Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá (Theo quy định tại Điểm 2 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá).
Hút thuốc lá là hành vi hút sản phẩm thuốc lá. Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả giới hạn sản phẩm thuốc lá ở đây là thuốc lá điếu.3 Tác hại của thuốc lá Tác hại của thuốc lá là ảnh hưởng có hại của việc sản xuất, sử dụng thuốc lá gây ra cho sức khỏe con người, môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội (Theo quy định tại Điểm 4 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá).1 Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người Thuốc lá gây ra khoảng 25 căn bệnh khác nhau cho người hút thuốc, trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư, bệnh tim mạch, bệnh hô hấp và ảnh hưởng tới sức khoẻ sinh sản. Các căn bệnh chính do thuốc lá gây ra như: ung thư phổi, khí phế thũng, rụng tóc, đục nhân mắt. Thuốc lá còn là một trong các nguyên nhân chính gây ra các bệnh không truyền nhiễm.
Cụ thể, tính chung trên thế giới thuốc lá gây ra 90% các trường hợp ung thư phổi, 75% các trường hợp phổi tắc nghẽn mạn tính và 25% các trường hợp bệnh tim thiếu máu cục bộ. Theo ước tính ở Hoa Kỳ thuốc lá là nguyên nhân của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 khoảng 30% các trường hợp tử vong do bệnh ung thư (Nguồn: Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá Quốc gia, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh - Bộ Y tế).2 Tác hại của thuốc lá đối với môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội Ảnh hưởng kinh tế gia đình: người hút thuốc lá sẽ tiêu phí một khoảng tiền khá lớn để mua thuốc lá, làm ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình, đặc biệt ở những gia đình kinh tế khó khăn. Hút thuốc lá chắc chắn sẽ gây ra những bệnh tật nguy hiểm như đã trình bày phần trên, chi phí để chăm sóc y tế cho chính bản thân người hút và người bị hút thuốc lá thụ động trong gia đình là rất lớn, có gia đình không thể chịu đựng nổi (chưa nói đến những bệnh nan y như ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…). Ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia, môi trường: đất canh tác dùng cho sản xuất các loại cây lương thực bị thu hẹp lại, nhường chổ để trồng cây thuốc lá vì có lợi nhuận cao hơn.
Một lượng giấy khổng lồ phục vụ cho việc vấn các điếu thuốc lá, và các loại bao bì. Rác rưởi do thuốc lá cũng ảnh hưởng xấu đến môi trường sống. Chi phí chăm sóc y tế cho những người dân hút thuốc lá và việc giảm ngày công lao động của họ là những tổn thất rất lớn cho một quốc gia có nhiều người nghiện thuốc lá. Ngoài ra thuốc lá còn có nguy cơ gây ra những vụ hoả hoạn dữ dội và những vụ cháy rừng tàn phá tài nguyên quốc gia… (Lê Hùng, 2000).3 Các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu về các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến việc hút thuốc trong cộng đồng sinh viên tại một trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ của Erkan và cộng sự (2013) cho thấy những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể là giới tính, khu vực địa lý, nơi cư trú của cha mẹ, nghề nghiệp của cha, các thành viên gia đình, tình trạng nghề nghiệp, và sự hài lòng nói chung về nơi cư trú hiện tại.
Nghiên cứu của Nichter và cộng sự (2010) chỉ ra rằng những năm học đại học là khoảng thời gian mà nguy cơ bắt đầu hút thuốc gia tăng và việc hút thuốc trở nên thường xuyên hơn, mặc dù họ không phải là những người hút hàng ngày. Hầu hết là họ hút thuốc trong giao tiếp xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Theo Von Ah và cộng sự (2005), các yếu tố cá nhân, nhận thức và các nguồn lực đối phó có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến việc sinh viên đại học có xu hướng bắt đầu sử dụng thuốc lá và sau đó tiếp tục sử dụng nữa. Theo kết quả nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến việc hút thuốc lá giữa phụ nữ mang thai ở nông thôn và thành thị của Whitney (2011), người không hút thuốc lá có kiến thức về các tác hại của việc hút thuốc tốt hơn so với người hút thuốc lá, người hút thuốc cảm thấy rằng có ít lợi ích để bỏ hút thuốc hơn người không hút thuốc, nhiều người hút thuốc lá đánh giá thấp hoặc phủ nhận các nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng liên quan hút thuốc, hỗ trợ xã hội hoặc các mối quan hệ thân mật trong gia đình sẽ giúp hỗ trợ phụ nữ mang thai bỏ hút thuốc trong thời gian thai kỳ hiệu quả hơn.