Chương I: Giới thiệu Trình bày khái quát về tình hình, thực trạng công tác đào tạo nghề hiện nay tại Thành phố Tây Ninh và lý do chọn đề tài luận văn. Chương II: Tổng quan Trình bày cơ sở lý thuyết: Về phân tích chính sách; Về nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Về sinh kế bền vững của người nông dân;Sự đa dạng hoá thu nhập nông thôn;Về vai trò, ý nghĩa của đào tạo nghề đối với người nông dân; Một số qui định liên quan đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và một số kinh nghiệm trong đào tạo nguồn nhân lựcở các nước bạn gần Việt Nam. Từ đó, rút ra kinh nghiệm cho Thành phố Tây Ninh trong công tác đào tạo nghề và xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu. Chương III: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Trình bày những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia của người nông dân đối với chính sách đào tạo nghề.
Trình bày thiết kế phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. 6 Trình bày việc thực hiện các bước nghiên cứu định tính. Chương IV: Phân tích tác động chính sách đào tạo nghề Thực hiện các bước phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu, thông qua việc đánh giá các phiếu khảo sát chuyên gia, học viên tham gia đào tạo nghề. ChươngV: Kết luận và kiến nghị Trình bày tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, mục tiêu của chính sách, từ đó gợi ý giải pháp nâng cao công tác đào tạo nghề tại Thành phố Tây Ninh, và hàm ý nghiên cứu cho các nhà quản lý cũng như những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.
7 CHƯƠNG II-TỔNG QUAN 2.1 Phân tích chính sách: Phân tích chính sách là một ngành học về giải quyết vấn đề, dựa vào những phương pháp và kết quả nghiên cứu quan trọng của khoa học xã hội, những nghề nghiệp xã hội, và triết lý chính trị. Có một số cách định nghĩa thuật ngữ phân tích chính sách. Định nghĩa được sử dụng trong cuốn sách này là: phân tích chính sách là một quy trình điều tra có tính đa ngành được thiết kế nhằm tạo ra, đánh giá một cách phê phán, và truyền đạt thông tin giúp ích cho việc hiểu và cải thiện chính sách. Phân tích chính sách có phần mang tính mô tả vì nó dựa vào các môn khoa học xã hội để đưa ra và biện minh cho những lời khẳng định về những nguyên nhân và kết quả của các chính sách.
Tuy nhiên nó cũng mang tính chuẩn tắc. Để đánh giá những lời khẳng định về độ thỏa dụng kỳ vọng và giá trị đạo đức của các chính sách, phân tích chính sách dựa vào kinh tế học, phân tích ra quyết định, đạo đức học và những ngành triết lý chính trị và xã hội khác. Khía cạnh chuẩn tắc này của phân tích chính sách là cần thiết bởi vì nó liên quan tới sự chọn lựa những kết quả mong muốn (mục đích) và những phương hướng hành động được ưa thích hơn (phương tiện), vốn là một quy trình dựa vào lập luận về đạo đức. Sự chọn lựa những mục đích và phương tiện đòi hỏi những sự đánh đổi liên tục giữa các giá trị cạnh tranh với nhau như tính công bằng, hiệu quả, an ninh, tự do, và nền dân chủ.2Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được.
Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội. Có thể nói nghề chính là phương tiện để con người sinh sống. Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước. 8 Dạy nghề (theo Luật dạy nghề năm 2006) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để họ có thể tìm được việc làm và tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Luật cũng qui định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và về hình thức của hoạt động dạy nghề bao gồm cả dạy chính qui và dạy nghề thường xuyên. Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có đội tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo qui định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thanh công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất Lao động qua đào tạo nghề là những người hoàn thành ít nhất một chương trình đào tạo của một nghề tại một cơ sở dạy nghề (gồm cả các cơ sở sản xuất kinh doanh) và được cấp văn bằng chứng chỉ nghề hoặc được thừa nhận theo các qui định hiện hành.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của họ.3 Sinh kế bền vững của người nông dân: Khái niệm sinh kế được giải thích như sau: "Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế'chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục 9 hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế' bền vững cho các thế' hệ kế' tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế' khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn. Theo khung phân tích sinh kế xác định có 5 nhóm tài sản, hay còn được hiểu là “vốn” mà sinh kế dựa vào. Các tài sản này bao gồm tài sản (hoặc là vốn) con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội.
Cần gia tăng khả năng tiếp cận của người nông dân đến các tài sản sinh kế này bằng cách giúp họ có khả năng sở hữu hay sử dụng hiệu quả các vốn sinh kế này hay được hiểu là hỗ trợ sinh kế và giảm nghèo cho họ. Tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến thức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ. Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng và chất lượng của lao động. Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần, năng lực lãnh đạo, v.
Tài sản con người có thể được diễn giải băng các chỉ báo về giáo dục, kiến thức bản địa, số lượng lao động, kỹ năng của lao động, tuổi thọ, số trẻ em suy dinh dưỡng, v. Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua qua năng xuất lao động và hiệu quả công việc của họ. Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưng vốn con người là phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước.
Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'', một nguồn lực của sự phát triển 10 kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia.
Đảng và Nhà nước ta khẳng định đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong hoạt động đầu tư, tính hiệu quả của các dự án đầu tư phụ thuộc vào thời điểm đầu tư, nếu lựa chọn đúng thì hiệu quả cao và đầu tư sai thì hiệu quả thấp hay thất bại. Vốn con người được tích luỹ thông qua quá trình đầu tư theo thời gian, tuy nhiên lượng vốn này cao hay thấp còn phụ thuộc vào thời điểm đầu tư vào giáo dục của một con người. Nếu lao động nông thôn được đào tạo sớm, đúng tuổi khi đó họ nhận được kỹ năng, kiến thức nghề nghiệp lúc trẻ, tức là đầu tư đúng thời điểm và việc tích luỹ vốn tốt nhất, tích luỹ được nhiều kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,….
Chính nhờ những điều đó mà lao động nông thôn sẽ tự tạo việc làm cho mình, tăng năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, mà điều quan trọng hơn là họ biết cải tiến kỹ thuật và quản lý hiệu quả hơn. Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Yếu tố con người, vốn con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Nhờ có nền tảng đào tạo nghề, người lao động nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng xuất lao động, tăng thu nhập; góp phần bảo đam an sinh xã hội.