Chương 1 Giới thiệu: trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, những điểm nổi bậc của luận văn và kết cấu luận văn. 4 Chương 2 trình bài các khái niệm, cơ sở lý thuyết về sự khác biệt thu nhập của người lao động khu vực công và tư, nêu những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt thu nhập của người lao động hai khu vực, đồng thời nêu một số kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước. Chương 3 trình bài khái quát tình hình thị trường lao động ở Việt Nam năm 2012 và phân tích thống kê mô tả về sự khác biệt thu nhập của người lao động công và tư. Chương này cũng nêu mô hình thực nghiệm ứng dụng trong luận văn.
Chương 4 phân tích kết quả nghiên, cửu của mô hình thực kết quà phân tích của mô hình kinh tế lượng; đo lường sự khác biệt thu nhập của người lao động giữa hai khu vực công và tư ở Việt Nam. - Chương 5 nêu kết luận vấn đề nghiên cứu ; Qua đó tác giả khuyến nghị một số chính sách giảm sự khác biệt thu nhập của người lao động hai khu vực đồng thời nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiêp theo. 5 CHƯƠNG 2 co SỎ LÝ THUYẾT VÀ co SỞ THựC TIỄN Chương hày trình bầy về khái niệm, bản chất của khu vực công, khu vực tư và những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động. Chương này cũng trình bày những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt thu nhập của người lao động của hai khu vực.
Ngoài ra chương này cũng thông qua những nghiên cứu trước về sự khác biệt thu nhập của người lao động giữa hai khu vực tư và công của các quốc gia trên thế giới. Khu vực công » Theo quy ước, nền kình tế được phân chia làm hai khu vực: khu vực công và khu vực tư. Stiglitz (1986), khu vực công là hệ thống các cơ quan quyền lực: hành pháp, tư pháp, lập pháp và hệ thống các đơn vị kinh tể của nhà nước: các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị công ích, dịch vụ công ích. Khu vực nhà nước đề cập đến một phần của nền kinh tế có liên quan với việc cung cấp các dịch vụ chính phủ khác nhau.
Thành phần của khu vực nhà nước thay đổi theo quốc gia, nhưng trong hầu hết các nước khu vực công bao gồm các dịch vụ như quân đội, cảnh sát, giao thông công cộng và chăm sóc những con đường công cộng, giáo dục công cộng, cùng với y tế và những người làm việc cho chính phủ đó, chẳng hạn như viên chức dân cử. Khu vực công có thể cung cấp dịch vụ mà không một đối tượng nào bị loại trừ khỏi lợi ích (như chiếu sáng đường phố, công viên, đường xá, cầu,.), dịch vụ có lợi cho cả xã hội chứ không phải chỉ cá nhân sử dụng dịch vụ. Các tổ chức thuộc khu vực công có thể có nhiều hình thức, bao gồm: Quản lý trực tiếp tài trợ thông qua thuế; tổ chức cung cấp thường không có yêu cầu cụ thể để đáp ứng các tiêu chí thành công thương mại, và các quyết định sản xuất được xác định bởi chính phủ. Khu vực công được xem là một thành phần cơ bản không thể thiếu của bất kỳ nền kinh tế nào và phục vụ cho cuộc sổng xã hội chung.
Chính phủ sẽ thông qua khu vực này, nhằm thực hiện và chịu trách nhiệm chính trong việc phân phối hàng hóa và dịch vụ công đến mọi miền đất nước. Nói một cách khác, khu vực công được xem là một bộ phần hoặc một thành phần của nền kinh tế có liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ công cơ bản. Khu vực tư 6 Theo Stiglitz (1986), khu vực tư nhân thường bao gồm các tổ chức được sở hữu tư nhân và không phải là một phần của chính phủ. Khu vực này thường bao gồm các công ty (cả lợi nhuận và phi lợi nhuận), quan hệ đối tác và tổ chức từ thiện.
Nói theo một cách đơn giản hơn, khu vực tư là các tổ chức không được sở hữu hoặc điều hành bởi chính phủ. Ví dụ, cửa hàng bán lẻ, công đoàn tín dụ Khu vực tư nhân là một phần nhỏ của thị trường kỉnh tế được sở hữu và kiểm soát bởi các cá nhân yà doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp khu vực tư nhân không được kiểm soát bởi chính phủ và chịu trách nhiệm phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Một số ví dụ của các doanh nghiệp khu vực tư nhân; thương nhân duy nhất, nhượng quyền thương mặi và lao động hợp tác xã.ng, và các doanh nghiệp địa phương sẽ hoạt động trong khu vực tư nhân.
Khu vực tư nhân Ịà một phần của nền kinh tế, đôi khi được gọi là ngành công dân, được điều hành bởi các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, thường như một phương tiện của doanh nghiệp vì lợi nhuận, không được kiểm soát của nhà nước (các khu vực của nền kinh tế được kiểm soát bởi nhà nước được gọi là khu vực nhà nước). Khu vực tư nhân sử dụng hầu hết lực lượng lao động ở một số nước. Khu vực tư nhân được quy định về mặt pháp lý của nhà nước. Doanh nghiệp trong một quốc gia được yêu cầu phải tuân thủ luật pháp tại quốc gia đó.
Trong một số trường hợp, thường liên, quan đến các doanh nghiệp đa quốc gia có thể lựa chọn các nhà cung cấp và các địa điểm dựa trên nhận thức của họ về môi trường pháp lý của họ, những quy định này đã dẫn đến thực hành không đồng đều trong một công ty. Ví dụ, người lao động ở một quốc gia có thể được hưởng lợi từ công đoàn lao động mạnh, trong khi lao động trong nước khác có những luặt lệ rất yếu hỗ trợ các công đoàn lao động, mặc dù họ làm việc cho cùng một chủ nhân. Trong một số trường hợp, các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp cá nhân đã chọn để tự điều chỉnh bằng cách áp dụng tiêu chuẩn cao hơn để đối phó với người lao động, khách hàng của họ, hoặc môi trường hơn mức tối thiểu được yêu cầu hợp pháp cửa họ. Người lao động Người lao động là lao động trực tiếp tham gia sản xuất, trực tiếp phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp hay còn gọi là lao động trực tiếp.
“Lao động trực tiếp là những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, lao động của họ gắn liền với việc sản xuất sản phẩm, sức lao động của họ hao phí trực tiếp cho sản phẩm được sản xuất” (Hồ ■ 7. ■ Phan Minh Đức, 2008, tr.9) Người lao động là người làm công ăn lương, cố thể là ngườÈLao động phổ thông: Công nhân, thợ, nông dân làm thuê, người giúp việc, Ồ sin.và lao động trí thức: Nhân viên (công chức, tư chức), cán bộ.Một người lao động đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng. Trong hầu hết các nền kinh tế hiện đại, thuật ngữ "nhân viên", "công nhân" đề cập đến một mối quan hệ được xác định cụ thể giữa một cá nhân và một công ty, mà khác với những khách hàng tiêu dùng.Người-lao động cũng thường kết họp thành các Công đoàn hoặc nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình. Trong kinh tế, lao động là thước đo công việc được thực hiện bởi con người.
Đó là thông thường đối lập với các yếu tố khác của sản xuất như đất đai và vốn. Có giả thuyết đó đã phát triển một khái niệm gọi là nguồn nhân lực (đề cập đến những kỹ. năng mà người lao động có, không nhất thiết phải làm việc thực tế của họ). Như vậy người lao động có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tê của quốc gia, họ là lực lượng rất càn thiết cho quá trình sản xuât công nghiệp, nước ta đang phát triển kinh tế dựa vào các ngành nghề công nghiệp sự dụng ưu thế lao động dồi dào yàgiárẻ.
Thu nhập Thu nhập là một phạm trù kinh tế, là một kểt quả quan trọng của sự phân phối của cải trong xã hội. Kinh tế học vi mô coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phận dân cư khác do không có vốn chỉ có sức lao động phải đi làm thuê cho người có vốn và đổi lại họ nhận được các khoảng tiền gọi là thu nhập. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), thu nhập là sự trả công hoặc có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thõa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Tuy nhiên, trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ờ các nước trên thế giới. Điều đó cho thấy sự phức tạp về thu nhập thể hiện ngay trong quan điểm triết lý về thu nhập. Thị trường lao động: Theo Adam Smith (1759), thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động (hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng lao dộng) và người bận sức lao động (người lao động). Theo tổ chưc lao động quốc tế (ILO) thì: thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làrri của lao động, cũng như mức độ tiền công.Thị trường sức lao động được cấu thành bới ba yếu tố là: cung, cầu và giá cả sức lao động.
Thực tiễn cho thấy, thông thường, trong các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thị trường jao động, cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức lao động. Xuất phát điểhì của thực tiễn này là ở chỗ cho đến náy, số lượng những người tìm việc vẫn nhiều hơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có. Hơn nữa, người lao động đi tìm việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó, người sử dụng lao động có nhiều khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn.