ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Ngày nay, cùng với sự gia tăng tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm, ĐTĐ đã và đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Theo Liên đoàn ĐTĐ Thế giới, năm 2021 có 537 triệu người trưởng thành (20-79 tuổi) trên thế giới sống chung với bệnh ĐTĐ, cứ 10 người thì có 1 người mắc phải bệnh này. Dự đoán, số người mắc ĐTĐ sẽ tăng lên 643 triệu vào năm 2030 và 783 triệu vào năm 2045 trên thế giới.
Bệnh ĐTĐ gây ra 6,7 triệu ca tử vong vào năm 2021, tức là cứ 5 giây lại có 1 ca tử vong do bệnh ĐTĐ trên thế giới [1]. Tại Việt Nam, vào năm 2021 đã có 3,99 triệu người mắc bệnh tiểu đường (độ tuổi 20-79), trong đó 51,5% (2,05 triệu người) những người mắc bệnh tiểu đường chưa được chẩn đoán và con số này được dự báo sẽ tăng lên 6,1 triệu vào năm 2045 [1]. ĐTĐ típ 2 là loại có bệnh ĐTĐ phổ biến nhất, chiếm 90% tổng số bệnh ĐTĐ trên thế giới, đang có xu hướng ngày càng tăng trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [1]. Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận và cắt cụt chi [2].
Để đạt mục tiêu điều trị ở bệnh nhân mắc ĐTĐ cần tối ưu hóa việc sử dụng thuốc. Tuy nhiên, bệnh nhân ĐTĐ típ 2 thường có một chế độ dùng thuốc phức tạp nên các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (DRP) thường xảy ra với các đối tượng này [3, 4] dẫn đến giảm hiệu quả kiểm soát bệnh, tăng nguy cơ gặp các biến chứng [5]. DRP có thể xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ giai đoạn kê đơn của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều dưỡng và hành vi sử dụng thuốc của bệnh nhân [6]. Với các đối tượng bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú, các DRP xảy ra ở quá trình kê đơn của bác sĩ là một trong những DRP cần lưu ý và có biện pháp can thiệp.
Vì vậy, để có hiệu quả điều trị tốt, cần hạn chế DRP trong giai đoạn này. Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ là cơ sở y tế hạng II trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, có nhiệm vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong huyện và các khu vực lân cận. Tại phòng khám nội tiết, thuộc khoa khám bệnh của bệnh viện đang quản lý và theo dõi điều trị ngoại trú khoảng 1500 bệnh nhân ĐTĐ típ 1 2 theo chương trình quản lý ĐTĐ quốc gia. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào tổng hợp các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong kê đơn trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện.
Để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả điều trị đồng thời làm cơ sở cho hoạt động dược lâm sàng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong kê đơn trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ” với hai mục tiêu sau: 1. Phân tích đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ. Phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong kê đơn thuốc điều trị đái tháo đường típ 2 cho bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu. Đại cương về đái tháo đường típ 2 1.
Định nghĩa Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, bệnh đái tháo đường được định nghĩa: “Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protide, lipide, gây tổn thương nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, mắt, thận, thần kinh” [2]. Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính [2]: - Đái tháo đường típ 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). - Đái tháo đường thai kỳ (là đái tháo đường được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về đái tháo đường típ 1, típ 2 trước đó).
- Các loại đái tháo đường đặc biệt do các nguyên nhân khác, như đái tháo đường sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô. Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường típ 2 Hai yếu tố đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ típ 2 là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau [2, 7, 8]. - Rối loạn tiết insulin: Do tế bào β đảo tụy bị rối loạn về khả năng sản xuất insulin cả về mặt số lượng và chất lượng để đảm bảo cho chuyển hóa glucose bình thường. Thiếu hụt insulin xảy ra sau một giai đoạn tăng insulin máu nhằm bù trừ cho tình trạng kháng insulin.
Rối loạn tiết insulin bao gồm: rối loạn về nhịp tiết, động học insulin và rối loạn về số lượng tế bào β tiết insulin. - Tình trạng kháng insulin xảy ra khi khả năng bài tiết insulin của các tế bào β đảo tụy không đáp ứng được nhu cầu chuyển hóa glucose. Hình thức kháng insulin bao gồm: giảm khả năng ức chế sản xuất glucose ở gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan. - Yếu tố di truyền cũng đóng góp vào tình trạng kháng insulin, ngoài ra, béo phì 3 đặc biệt là béo bụng, tuổi cao, không hoạt động thể lực cũng gây nên tình trạng kháng insulin.
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường típ 2 Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau [2]: Bảng 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ [8] Tiêu chuẩn Giá trị Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7 mmol/L (126 mg/dL) (Bệnh nhân phải nhịn ăn ít nhất 8 giờ) Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm ≥ 11,1 mmol/L (200 mg/dL) pháp dung nạp glucose đường uống 75g HbA1C ≥ 6,5% (48 mmol/mol) (Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L (200 mg/dL) Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất. Lưu ý: - Glucose huyết đói được đo khi BN nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ). - Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: BN nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng 75g glucose, hòa trong 250-300 mL nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó BN ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày, không mắc các bệnh lý cấp tính và không sử dụng các thuốc làm tăng glucose huyết.
Định lượng glucose huyết tương tĩnh mạch. Mục tiêu điều trị đái tháo đường típ 2 Mục tiêu điều trị ở người bệnh ĐTĐ có thể khác nhau, cần thiết phải cá thể hóa, phụ thuộc tình trạng sức khỏe, tuổi, biến chứng của bệnh, thời gian mắc bệnh. Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành, không có thai được trình bày theo bảng dưới đây [2]: Bảng 1. Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ ở người trưởng thành, không có thai.
Mục tiêu Chỉ số HbA1c < 7% (53mmol/mol) Glucose huyết tương mao 80-130 mg/dL (4,4-7,2 mmol/L) mạch lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương <180 mg/dL (10,0 mmol/L) mao mạch sau ăn 1-2 giờ • Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90 mmHg Huyết áp • Nếu đã có biến chứng thận, hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch do xơ vữa cao: Huyết áp <130/80 mmHg • LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch • LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh tim mạch vữa xơ, hoặc có thể thấp hơn <50 mg/dL Lipid máu nếu có yếu tố nguy cơ xơ vữa cao • Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L) • HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau [2]: - Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c < 6,5% ở BN trẻ, mới chẩn đoán không có các bệnh lý tim mạch, nguy cơ hạ glucose máu thấp. - Ngược lại, mục tiêu có thể cao hơn (HbA1c từ 7,5 – 8%) ở những BN lớn tuổi, mắc bệnh đái tháo đường đã lâu, có nhiều bệnh lý đi kèm, có tiền sử hạ glucose 5 máu nặng trước đó. - Cần chú ý mục tiêu glucose huyết sau ăn (sau khi bắt đầu ăn 1-2 giờ) nếu đã đạt được mục tiêu glucose huyết lúc đói nhưng chưa đạt được mục tiêu HbA1c. Mục tiêu điều trị đái tháo đường ở người cao tuổi [2] Glucose Glucose lúc Huyết Tình trạng sức Cơ sở để HbA1C huyết lúc đói đi ngủ áp khỏe chọn lựa (%) hoặc trước (mg/dL) mmHg ăn (mg/dL) Mạnh khỏe Còn sống lâu <7,5% 90-130 90-150 <140/90 Kỳ vọng Nhiều bệnh, sức sống trung <8,0% 90-150 100-180 <140/90 khỏe trung bình bình Nhiều bệnh phức tạp hoặc bệnh Không còn <8,5% 100-180 110-200 <150/90 nguy kịch/ sức sống lâu khỏe kém * Đánh giá về kiểm soát glucose huyết: - Thực hiện xét nghiệm HbA1c ít nhất 2 lần trong 1 năm ở những người bệnh đáp ứng mục tiêu điều trị (và những người có glucose huyết được kiểm soát ổn định).