Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nhiễm trùng đường tiết niệu 1. Định nghĩa Nhiễm trùng đường tiết niệu (NTĐTN) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp, xuất hiện khi vi sinh vật gây bệnh đi vào lỗ tiểu và nhân lên trong đường tiết niệu hoặc do vi sinh vật từ máu đến định cư tại nơi này. NTĐTN là tình trạng nhiễm trùng trên đường bài xuất nước tiểu kể từ bể thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo [11], [31].
Dịch tễ học nhiễm trùng đường tiết niệu 1. Trên thế giới Nhiễm trùng đường tiết niệu là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất và ảnh hưởng đến 50% phụ nữ trong cuộc đời của họ, với gần một nửa số phụ nữ này bị tái phát sau 6-12 tháng [26], [30], [36]. Nhiễm trùng đường tiết niệu là bệnh nhiễm trùng ngoại trú phổ biến nhất ở Mỹ. Tỷ lệ này tăng cao ở phụ nữ trẻ từ 14-24 tuổi và tăng theo tuổi.
Tỷ lệ hiện mắc tổng dân số chiếm 11%, trong đó, ở phụ nữ trên 65 tuổi là 20% [40], [41]. Một nghiên cứu của Columbia cho thấy tỷ lệ NTĐTN cấp tính ở phụ nữ và nam giới lần lượt là 23,3% và 6,8% [22]. Trong một nghiên cứu khác thực hiện trên 1959 đối tượng ghi nhận tỷ lệ nhiễm NTĐTN là 31% và các tác nhân gây bệnh chính là E. Tại Cartagena, Colombia năm 2016, tỷ lệ nhiễm trùng tiểu là 28%.
Ba tác ngân gây bệnh được phân lập là Escherichia coli, Escherichia coli với ß- lactam phổ rộng và Pseudomonas aeruginosa. Các tác nhân này kháng kháng 4 sinh với tỷ lệ cao, với các tỷ lệ lần lượt là ampicillin (66,6%), ceftriaxone (100%) và gentamicin (39,5%) [23]. Tại Việt Nam Năm 2007, nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận tỷ lệ NTĐTN chiếm 13% các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện. Các loại vi khuẩn thường gặp nhất là E.
Năm 2009, theo thống kê của Bộ Y tế (BYT) cho thấy tỷ lệ NTĐTN có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây (4-15%), đặc biệt là ở nam giới. Bệnh tăng theo tuổi và các bệnh lý đường tiết niệu như sỏi tiết niệu [9]. Năm 2017, tại Bệnh viện Quân Y 103 một nghiên cứu phân tích kết quả cấy nước tiểu trên 950 bệnh nhân đến khám và điều trị từ 2014-2016 ghi nhận có 261 bệnh nhân có kết quả cấy dương tính, chiếm 27,5% [17]. Tác nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu Căn nguyên gây NTĐTN gồm vi khuẩn (VK), vi rút, ký sinh trùng nhưng vi khuẩn có vai trò quan trọng nhất, trong đó chủ yếu là do VK gram âm.
Nhóm vi khuẩn này chiếm tỷ lệ 60%-70% căn nguyên [28]. Nhóm VK thường gặp tiếp theo là các Staphylococcus như S. aeruginosa chiếm tỷ lệ 10%-15% [25]. Ngoài ra, nấm gây bệnh cũng là một tác nhân đáng lưu ý.
Các vi sinh vật này xâm nhập vào đường tiểu và gây NKĐTN chủ yếu liên quan đến đặt ống thông tiểu không vô khuẩn hoặc chăm sóc ống thông tiểu không đúng kỹ thuật [7], [33]. Phân loại nhiễm trùng đường tiết niệu Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể phân ra thành: - Nhiễm trùng đường tiết niệu trên: viêm thận bể thận. - Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới: viêm niệu đạo, bàng quang, viêm tuyến tiền liệt [12]. 5 Cũng có thể chia ra thành [29]: - Nhiễm trùng đường tiết niệu đơn thuần: bệnh nhân không có cấu trúc bất thường của đường tiết niệu, hoặc không có thay đổi về niệu động học.
- Nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp: ở bệnh nhân nam giới hoặc ở bệnh nhân có bất thường về cấu trúc đường tiết niệu hoặc có thay đổi về niệu động học. Chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu 1. Dấu hiệu lâm sàng - Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới: thường liên quan với số lần đi tiểu như tiểu lắt nhắt, tiểu gắt, tiểu khó, đau khi đi tiểu. Nhiễm khuẩn bàng quang còn có biểu hiện tiểu ra mủ, tiểu ra máu, đau tức vùng trên xương mu hay vùng bụng dưới [12], [20], [39].
- Nhiễm trùng đường tiết niệu trên: thường có đau vùng hông lưng và các triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi [12], [20]. Xét nghiệm vi sinh Trong trường hợp nghi ngờ NTĐTN cấp tính hay mạn tính, có triệu chứng hay không có triệu chứng, bác sĩ lâm sàng đều nên cho cho chỉ định cấy nước tiếu để tìm vi khuẩn, và nên yêu cầu bệnh nhân (BN) cố nhịn tiểu cho đến khi lấy mẫu [8]. Các xét nghiệm sàng lọc: - Khảo sát trực tiếp qua phết nhuộm gram: rất có giá trị khi số luợng vi khuẩn là =105cfu/ml [8]. - Ðếm bạch cầu trong nước tiểu: nếu BN có trên 400.000 bạch cầu đa nhân thải ra trong nước tiểu trong mỗi giờ thì có thể thấy được khoảng 8 tế bào bạch cầu/ml nước tiểu và có thể kết luận được bệnh nhân NTÐTN [8].
- Phát hiện nitrate reductase, leukocyte esterase, catalase: dựa trên nguyên tắc là các vi khuẩn gây NTÐTN thường có enzyme nitrate reductase, 6 catalase và khi NTÐTN thì sẽ có bạch cầu trong nuớc tiểu nên sẽ có hiện diện enzyme leukocyte catalase [12]. Cấy nước tiểu: là tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán xác định NTĐTN. Lưu ý là mẫu nước tiểu gửi cấy phải được lấy, bảo quản và chuyên chở đúng cách để tránh nhiễm bẩn và tránh vi khuẩn bị tăng sinh, hoặc bị giảm số lượng trước khi nuôi cấy [12]. Chẩn đoán xác định nhiễm trùng đường tiết niệu Chẩn đoán xác định NTĐTN dựa trên triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm vi sinh [33].
Phân loại NTĐTN dựa trên triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm vi sinh [35] Tiêu chuẩn Phân loại Lâm sàng Vi sinh NTĐTN cấp Tiểu khó, gắt, và lắt nhắt, ≥10 bạch cầu/mm3 đơn thuần ở đau trên xương mu không có ≥103C/ml tác nhân vi nữ, viêm bàng triệu chứng 4 tuần trước khi khuẩn trong CCMS quang cấp đơn xuất hiện không sốt hay đau ≥103CFU/ml tác nhân VK thuần ở nữ hông trong CCMS Sốt, ớn lạnh Viêm thận bể Ðau hông khi khám ≥10 bạch cầu/ml thận cấp đơn Loại trừ các chẩn đoán khác ≥104cfu/ml tác nhân vi thuần Không có tiền sử hay bất khuẩn trong CCMS thường về tiết niệu. Có các triệu chứng liệt kê ≥10 bạch cầu/m NTÐTN phức trên ≥105cfu/ml VK trong tạp Có một hay nhiều yếu tố CCMS ở nữ kèm với NTÐTN phức tạp ≥104cfu/ml VK trong 7 CCMS ở nam hoặc lấy qua ống thông thẳng ở nữ ≥10 bạch cầu/m NTÐTN không Không có triệu chứng tiết ≥105cfu/ml VK trong triệu chứng niệu CCMS khảo sát cách nhau >24 giờ 1. Điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu bằng kháng sinh 1. Nguyên tắc điều trị kháng sinh trong nhiễm trùng đường tiết niệu - Điều trị khỏi NTĐTN phụ thuộc vào nồng độ kháng sinh trong nước tiểu hơn là trong huyết thanh.
Có sự tương quan chặt chẽ giữa mức độ nhạy cảm của vi sinh vật với nồng độ kháng sinh đạt được trong nước tiểu. Khi có nhiễm khuẩn huyết đồng thời xảy ra với NTĐTN, nồng độ kháng sinh đạt được trong máu rất quan trọng và cần điều trị kháng sinh đường TM. - Bệnh nhân NTĐTN có sốt cao, lạnh run và tăng bạch cầu máu cần điều trị kháng sinh khởi đầu bằng đường tĩnh mạch, được hướng dẫn bằng phết nhuộm gram nước tiểu. - Bệnh nhân NTĐTN trên cần điều trị KS từ 10 ngày đến 2 tuần.
- Những bệnh nhân NTĐTN trên đơn thuần, kháng sinh trị liệu có thể được chuyển từ đường tĩnh mạch sang đường uống sau khi hết sốt vài ngày. Nhóm kháng sinh fluoroquinolon có thể dùng mở rộng trong trường hợp này. Những bệnh nhân chọn lọc không nhiễm độc, giảm miễn dịch, có thai hoặc ói mửa có thể điều trị ban đầu bằng đường uống. - Vi khuẩn phải được thanh lọc khỏi nước tiểu trong vòng 24 đến 48 giờ sau điều trị, nếu vẫn còn vi khuẩn trong nước tiểu, kháng sinh trị liệu nên được thay đổi dựa trên kết quả nhạy cảm của kháng sinh.
8 - Bệnh nhân nhiễm khuẩn mắc phải từ cộng đồng của đường tiết niệu trên có kết quả nhuộm gram với vi khuẩn gram âm cần được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng. Những kháng sinh phổ rộng được khuyến cáo có thể là cephalosporins thế hệ 3, aztreonam, và ureidopenicillins. - Bệnh nhân vẫn còn sốt hoặc nhiễm độc mặc dù đã trị liệu với kháng sinh thích hợp, nên tìm những ổ áp xe quanh thận hoặc áp xe của vỏ thận. - Những bệnh nhân viêm thận bể thận do nhiễm khuẩn mắc phải từ bệnh viện, có bệnh sử nhiễm khuẩn tái đi tái lại hoặc nhiễm khuẩn lần đầu với vi khuẩn kháng thuốc, điều trị kháng sinh ban đầu phải là một kháng sinh phổ rộng kháng được vi khuẩn Pseudomonas.
Khi đã có kết quả vi khuẩn học và thử nghiệm nhạy cảm của kháng sinh, có thể điều chỉnh kết quả điều trị. - Nhiễm nấm candida đường tiết niệu cũng thường gặp ở BN suy giảm miễn dịch, bệnh nhân đái tháo đường hoặc BN đã có điều trị KS trước đó. - Nhiễm khuẩn đường tiết niệu với đa vi khuẩn có thể gặp ở bệnh nhân có sỏi thận, áp xe thận mạn, đặt ống thông niệu đạo - bàng quang, hoặc bệnh nhân có lỗ rò bàng quang với ruột hoặc rò bàng quang âm đạo. - Những BN có suy thận, cần thiết phải điều chỉnh liều KS cho những KS thải trừ chủ yếu qua thận mà không có cơ chế thải trừ khác.
Khi có suy thận, thận có thể không đủ khả năng cô đặc KS trong nước tiểu, tắc nghẽn đường tiết niệu cũng có thể làm giảm nồng độ KS trong nước tiểu, như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc thải trừ vi khuẩn trong nước tiểu. - Liệu trình ngắn ngày (3 ngày) cho NTĐTN dưới (viêm bàng quang ở bệnh nhân nữ trẻ) có hiệu quả như liệu trình 7-14 ngày. Bệnh nhân nam bị viêm bàng quang nói chung được điều trị kháng sinh ít nhất 7 ngày vì có liên quan đến các yếu tố gây biến chứng, đặc biệt viêm tuyến tiền liệt. - Viêm bàng quang ở phụ nữ lớn tuổi chưa được nghiên cứu nhiều.
Phụ nữ lớn tuổi có triệu chứng điển hình của viêm bàng quang có thể được điều trị 9 3 ngày với fluoroquinolone hoặc cotrimoxazole. Tái phát sau 3 ngày điều trị nên được xem xét những chứng cứ của NTĐTN trên và hướng dẫn điều trị như đã mô tả ở trên nên được theo dõi. - Phụ nữ có thai có khuẩn niệu không triệu chứng được xem là có nguy cơ xảy ra viêm thận bể thận sau khi có thai. Một số nghiên cứu đã ghi nhận có sư liên quan giữa khuẩn niệu không triệu chứng trong giai đoạn thai kỳ và sinh non, trẻ sơ sinh thiếu cân, tiền sản giật.