Chương 1: TỔNG QUAN 1.Tổng quan về bệnh viêm phổi ở trẻ em 1.Định nghĩa Viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) hay còn gọi là viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là nhiễm khuẩn cấp tính (dưới 14 ngày) gây tổn thương nhu mô phổi, kèm theo dấu hiệu ho, khó thở, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, đau ngực. Các triệu chứng này thay đổi theo tuổi. Đây là tình trạng viêm phổi xuất hiện ở ngoài cộng đồng hoặc trong 48 giờ đầu tiên sau khi nhập viện.Đặc điểm dịch tễ học Viêm phổi cộng đồng ở trẻ em là bệnh lý phổ biến có tỷ lệ mắc và tử vong cao, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi. Số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2015 cho thấy viêm phổi đứng thứ hai trong số các nguyên nhân gây tử vong trên trẻ 1-59 tháng tuổi, chiếm 12,8% trường hợp, chỉ sau các biến chứng của trẻ đẻ non [26].
Trẻ em tử vong hàng năm vì bệnh viêm phổi đã giảm 47% trong giai đoạn 2000 – 2015. từ 1,7 triệu ca mắc xuống 922.000 nhưng vẫn là bệnh có tỷ lệ giảm thấp nhất [21]. Ở Việt Nam theo thống kê của các cơ sở y tế, viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu mà trẻ em đến khám và điều trị tại các bệnh viện và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Số liệu báo cáo năm 2004 của UNICEF và WHO cho thấy với quần thể khoảng 7,9 triệu trẻ < 5 tuổi tỷ suất tử vong chung là 23%, thì mỗi năm Việt Nam có khoảng 38.000 trẻ tử vong trong đó viêm phổi chiếm 12% trường hợp số trường hợp tử vong.
Như vậy mỗi năm ước tính có khoảng 4500 trẻ < 5 tuổi tử vong do viêm phổi [6].Nguyên nhân gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em Viêm phổi cộng đồng trẻ em có thể xuất phát từ nhiều nhóm căn nguyên, bao gồm vi khuẩn, virus, ký sinh trùng và nấm, trong đó nguyên nhân thường gặp nhất là vi khuẩn [6]. Các nhóm căn nguyên gây bệnh chính thay đổi theo tuổi. Theo thống kê của WHO, vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae. Đây là nguyên nhân gây khoảng 1/3 trường hợp viêm phổi trên trẻ < 2 tuổi.
Tiếp đến là Haemophilus influenzae (10-30% trường hợp), 3 sau đó là các loại vi khuẩn khác (Moraxella catarrhalis, Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogens).Ở trẻ nhỏ < 2 tháng tuổi, viêm phổi cộng đồng còn có thể do các vi khuẩn Gram âm đường ruột như Klebsiellapneumoniae, E.Ở trẻ lớn hơn 5 tuổi, cần lưu ý đến nhóm vi khuẩn không điển hình vibao gồm Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae, Legionella pneumophila [6] [26]. Bên cạnh đó, viêm phổi cộng đồng cũng có thể do tác nhân virus. Những virus thường gặp gây viêm phổi ở trẻ em là virus hợp bào hô hấp Respiratory Syncitral virus (RSV), sau đó là các virus cúm A, B, á cúm Adenovirrus, Metapneumovirus, virus SARS (severe acute respiratory syndrome). Nhiễm virus đường hô hấp làm tăng nguy cơ viêm phổi do vi khuẩn hoặc có thể kết hợp viêm phổi do virus và vi khuẩn (khoảng 20-30%).
Virus là nguyên nhân trong 30-67% trường hợp viêm phổi cộng đồng trên trẻ nhỏ và thường gặp ở nhóm trẻ < 1 tuổi hơn so với nhóm trẻ > 2 tuổi [26]. Một nhóm tác nhân ít gặp hơn nhưng cũng là một trong các tác nhân gây viêm phổi cộng đồng là các ký sinh trùng như Pneumocytis camii, Toxoplasma, Histoplasma, .và một số loại nấm như Candida spp,. Pneumocytis jiroveci là tác nhân quan trọng trên nhóm trẻ nhỏ nhiễm HIV [26]. Tại Việt Nam, nhiều nhóm tác giả đã tiến hành các nghiên cứu nhằm xác định căn nguyên gây bệnh chủ yếu trên trẻ em (xem Bảng 1.
Các kết quả này đều thống nhất với báo cáo của WHO về chủng loại các tác nhân chính gây viêm phổi cộng đồng trẻ em phân theo độ tuổi bao gồm S. coli, cộng thêm các tác nhân virus trên trẻ nhỏ, và các tác nhân không điển hình bao gồm M.pneumoniae trên trẻ lớn hơn. Tỷ lệ từng chủng loại dao động theo từng nghiên cứu do sự khác biệt của nhóm đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Mặc dù nhóm tác nhân chủ yếu gây viêm phổi cộng đồng trên trẻ em không thay đổi nhiều theo thời gian nhưng tình hình đề kháng của các tác nhân này, đặc biệt là các vi khuẩn có xu hướng gia tăng rõ rệt.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây đã được thực hiện trên trẻ viêm phổi cộng đồng điều trị nội trú tại bệnh 4 viện. Nghiên cứu tại bệnh viện Xanh Pôn năm 2017 cho kết quả tỉ lệ vi khuẩn gây bệnh VPCĐ ở trẻ em cao nhất là H. HI đề kháng rất cao các kháng sinh điều trị viêm phổi như ampicillin (86.3%); nhạy cảm với imipenem (82. So sánh theo thời gian cho thấy tỷ lệ kháng cao và ngày càng gia tăng của HI từ năm 2000 đến 2016 với các kháng sinh như ampicillin từ 34.7%; imipenem từ 0% lên đến 11.
Đặc biệt với nhóm cephalosporin tăng rất nhanh như cefuroxim từ 8. Một số nguyên nhân gây viêm phổi cộng đồng ở một số nghiên cứu Nghiên cứu Đối tượng Địa điểm Thời Vi sinh gây bệnh nghiên cứu nghiên cứu gian Đào Minh Trẻ 1 tháng Khoa Hô hấp 5/2012- Các loại virus 59,70%, Tuấn và cộng đến 15 tuổi BV Nhi Trung 5/2013 S.pneumoniae 10,39%, sự [19] viêm phổi ương H.coli 2,40% Phạm Thu Trẻ 12 Khoa Hô hấp 7/2010- M.pneumonia e 26,3%; Hiền và cộng tháng - 15 BV Nhi Trung 3/2012 S.pneumoniae 9,14%, sự [13] tuổi viêm ương H.pneumoniae 3,74%, các loại virus 16%,… Lê Thị Hồng Trẻ 2- 15 Khoa Hô hấp 8/2012- M.pneumoniae 36,67%, Hạnh và cộng tuổi viêm BV Nhi Trung 7/2013 S.pneumoniae 18,33%, sự [12] phổi thùy ương H. Huỳnh Văn Trẻ 2- 59 Khoa Hô hấp 11/2010- S.pneumoniae 23,3%, Tường và tháng BV Nhi đồng 1 04/2011 H.influenzae 20%, cộng sự [21].Phân loại viêm phổi cộng đồng ở trẻ em Theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh Bộ Y tế năm 2015, viêm phổi được phân loại như sau [6]: 1. Viêm phổi nhẹ - Trẻ có các triệu chứng: Ho hoặc khó thở nhẹ Sốt Thở nhanh Có thể nghe thấy ran ẩm hoặc không Không có các triệu chứng của viêm phổi nặng như: Rút lõm lồng ngực Phập phồng cánh mũi Thở rên: ở trẻ < 2 tháng tuổi Tím tái và các dấu hiệu nguy hiểm khác 1.
Viêm phổi nặng Trẻ có các dấu hiệu: Ho Thở nhanh hoặc khó thở Rút lõm lồng ngực Phập phồng cánh mũi Thở rên (trẻ < 2 tháng tuổi) Có thể có dấu hiệu tím tái nhẹ Có ran ẩm hoặc không X-quang phổi có thể thấy tổn thương hoặc không Không có các dấu hiệu nguy hiểm của viêm phổi rất nặng (Tím tái nặng, suy hô hấp nặng, không uống được, ngủ li bì khó đánh thức, co giật hoặc hôn mê. Viêm phổi rất nặng Trẻ có thể có các triệu chứng của viêm phổi hoặc viêm phổi nặng. 6 Có thêm một trong các dấu hiệu nguy hiểm sau đây: Tím tái nặng Không uống được Ngủ li bì khó đánh thức Thở rít khi nằ m yên Co giật hoặc hôn mê Tình trạng suy dinh dưỡng nặng Cần theo dõi thường xuyên để phát hiện các biến chứng, nghe phổi để phát hiện ran ẩm nhỏ hạt, tiếng thổi ống, rì rào phế nang giảm, tiếng cọ màng phổi. Và chụp X quang phổi để phát hiện các tổn thương nặng của viêm phổi và biến chứng như tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, áp xe phổi.
để điều trị kịp thời.Chẩn đoán viêm phổi cộng đồng trẻ em Chẩn đoán viêm phổi cộng đồng ở trẻ em chủ yếu dựa vào dấu hiệu lâm sàng kết hợp X-quang và một số xét nghiệm khác nếu có điều kiện [6]. Dựa vào lâm sàng Theo nghiên cứu của WHO viêm phổi cộng đồng ở trẻ em thường có những dấu hiệu sau: - Sốt: Dấu hiệu thường gặp nhưng tính đặc hiệu không cao vì sốt có thể do nhiều nguyên nhân. Sốt có thể có ở nhiều bệnh, chứng tỏ trẻ có biểu hiện nhiễm khuẩn trong đó có viêm phổi. - Ho: Dấu hiệu thường gặp và có độ đặc hiệu cao trong các bệnh đường hô hấp, trong đó có viêm phổi.
- Thở nhanh: Dấu hiệu thường gặp và là dấu hiệu sớm để chẩn đoán viêm phổi ở trẻ em tại cộng đồng vì có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Theo WHO ngưỡng thở nhanh của trẻ em được quy định như sau: + Trẻ em từ 6-12 tháng tuổi: > 50 lần/phút là thở nhanh. + Trẻ từ 1-5 tuổi: > 40 lần/phút là thở nhanh. - Rút lõm lồng ngực: Là dấu hiệu của viêm phổi nặng.
- Ran ẩm nhỏ hạt: Nghe phổi có ran ẩm nhỏ hạt là dấu hiệu của viêm phổi 7 tuy nhiên độ nhậy thấp so với viêm phổi được xác định bằng hình ảnh X-quang. Hình ảnh X-quang phổi Chụp X-quang phổi là phương pháp để xác định các tổn thương phổi, trong đó có viêm phổi. Tuy nhiên không phải trường hợp viêm phổi được chẩn đoán trên lâm sàng nào cũng có dấu hiệu tổn thương trên phim X-quang phổi tương ứng và ngược lại. Trong 2-3 ngày đầu của bệnh, X-quang phổi có thể bình thường.
Hình ảnh viêm phổi điển hình trên phim X-quang là đám mờ ở nhu mô phổi ranh giới không rõ một bên hoặc hai bên phổi. Viêm phổi do vi khuẩn, đặc biệt do phế cầu: tổn thương phổi có hình mờ hệ thống bên trong có các nhánh phế quản chứa khí. Tổn thương viêm phổi do virus hoặc vi khuẩn không điển hình thường đa dạng, hay gặp tổn thương khoảng kẽ. Có thể gặp hình ảnh tràn dịch màng phổi, áp xe phổi, xẹp phổi.3 Các xét nghiệm cận lâm sàng khác Xét nghiệm công thức máu và CRP : Bạch cầu máu ngoại vi (đặc biệt tỷ lệ đa nhân trung tính) và CRP máu thường tăng cao khi viêm phổi do vi khuẩn, không tăng nếu nguyên nhân do virus hoặc vi khuẩn không điển hình.
Xét nghiệm vi sinh: Cấy máu, cấy dịch tỵ hầu, đờm, dịch màng phổi, dịch khí phế quản qua ống nội khí quản, qua nội soi phế quản để tìm vi khuẩn gây bệnh, làm kháng sinh đồ. Các xét nghiệm này chỉ có thể làm được tại các bệnh viện tuyến trên còn tại Trung tâm Y tế huyện Tân Kỳ hiện tại vẫn chưa làm được.Điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPCĐ) ở trẻ em 1. Nguyên tắc điều trị viêm phổi - Xử trí tùy theo mức độ nặng. - Điều trị triệu chứng.
- Điều trị nguyên nhân: lựa chọn kháng sinh theo căn nguyên gây bệnh, nhưng ban đầu thường theo kinh nghiệm lâm sàng, yếu tố dịch tễ, mức độ nặng của bệnh, 8 tuổi bệnh nhân, các bệnh kèm theo, các tương tác, tác dụng không mong muốn của thuốc.