MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Đa dạng hóa sinh kế là đa dạng các hoạt động tạo thu nhập mà các hộ gia đình xây dựng nên nhằm duy trì sự thống nhất và phát triển kinh tế. Đa dạng hóa sinh kế có thể nói là một chiến lược có vai trò hết sức quan trọng đối với sinh kế của người dân. Nó không chỉ tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người dân mà còn giải quyết được vấn đề dư thừa lao động ở nông thôn hiện nay, giảm đáng kể các tệ nạn xã hội. Ngoài ra đa dạng hóa sinh kế còn có ý nghĩa trong việc tận dụng tối đa của địa phương.
Sự phân bố lao động trong các nghành nghề không đồng đều, trình độ văn hóa thấp, chủ yếu người dân trồng trọt, chăn nuôi theo kinh nghiệm,tập quán sản xuất nhỏ lẻ, việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến năng suất lao động. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng vẫn còn hạn chế và gặp khó khăn trong việc đi lại, đặc biệt là vào mùa mưa. Điều này đã làm cho thu nhập của người dân tương đối thấp. Sự phân bố trong các nghành nghề không đồng đều, trình độ văn hóa thấp chủ yếu người dân trồng trọt, chăn nuôi theo kinh nghiệm, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng của người dân vẫn còn gặp khó khăn trong việc đi lại. Ngoài ra những nguy cơ từ biến đổi khí hậu lên sinh kế của người dân nông thôn và an ninh lương thực khiến việc xác định và triển khai các nguồn thu nhập bền vững trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Chính vì vậy đề tài “Phân tích sinh kế hộ tại xã Đoài Côn , huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”. Được đưa ra để nghiên cứu, nhằm phân tích, đánh giá tình hình thực tế của hộ nông dân, những bất cập, những khó khăn mà người dân đang gặp phải trong sinh kế để từ đó đề ra các giải pháp nâng h 2 cao năng suất của các hoạt động sinh kế, tăng thu nhập, bảo đảm sinh kế bền vững cho các hộ gia đình tại xã Đoài Côn.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Mục tiêu của luận văn phân tích sinh kế của hộ gia đình nông thôn tại địa bàn xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Từ đó đánh giá sinh kế ở nông thôn và đề xuất được các giải pháp để nâng cao đời sống người dân tại địa phương nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng các hoạt động sinh kế của nông hộ ở xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; - Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong các hoạt động sinh kế.
- Đề xuất được các giải pháp cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống và sử dụng có hiệu quả trong đa dạng sinh kế trên địa bàn xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đa dạng sinh kế, sinh kế bền vững. - Giúp mỗi sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài khái quát thực trạng kinh kế của hộ gia đình nông thôn trên địa bàn xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. - Đề tài giúp chính quyền địa phương nhìn nhận khả năng đa dạng sinh kế , nâng cao thu nhập từ đó có thể đưa ra và áp dụng các chính sách vào thực tiễn tại địa phương, nhằm nâng cao đời sống của người dân. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.
Khái niệm hộ Hộ đã có từ lâu đời,cho đến nay nó vân tồn tại và phát triển.Trải qua mỗi thòi kỳ kinh tế khác nhau,hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới những hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là sự hoạt động của sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội. Theo từ điển chuyên nghành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng chung sống trong một mái nhà.Nhóm người đó bao gồm những người cùng chumg huyết tộc và người làm công.” Tại hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980) các đại biểu nhất trí rằng ‘Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất,tiêu dùng,xem như là một đơn vị kinh tế .” Theo Raul năm 1989 “Hộ là những người có huyết thống ,có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng” Theo Weberster – từ điển kinh tế năm 1990 “Hộ là những người sống chung dưới một mái nhà,cùng ăn và cùng chung một ngân quỹ”. Mặc dù, các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan điểm về hộ không giống nhau.Tuy nhiên,từ các quan điểm trên thì thấy được hộ đều có các đặc điểm chung như sau: Hộ là tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài.) h 5 -Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế ( chủ thể kinh tế),có nguồn lao động và phân công lao động chung; có vốn hoặc chương trình, kế hoạch sản xuất hoặc kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng ,có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ khong phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ thuộc thành phần kinh tế cá thể , tư nhân, tập thể, nhà nước… - Hộ không đồng nhất với gia đình, một hộ có thể bao gồm một cá nhân một thành viên có hoặc không có quan hệ huyết thống với nhau.
Hộ có thể là một gia đình hạt nhân, một gia đình mở rộng hay một đại gia đình. Thông thường, gia đình và hộ trùng lên nhau , tạo thành tên gọi “Hộ gia đình”. Khái niệm nông hộ Theo Ellis 1993,nông hộ là những hộ gia đình mà sinh kế nhai của họ có nguồn gốc chủ yếu từ nông nghiệp,sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất nông nghiệp. Nhà khoa học Traianốp cho rằng: hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định và ông coi hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp.
Khái niệm kinh tế nông hộ Theo giáo sư Trần Văn Hà thì kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà. Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”. Kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông – lâm – nghư nghiệp được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp h 6 với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội. Phát triển kinh tế nông hộ là quá trình tăn tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định, trong đó bao gồm cả sự gia tăng lên về quy mô sản lượng và tiến bộ mọi mặt của xã hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.
Khái niệm sinh kế -Theo Chambers, R. Conway, 1992:”Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc , và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai,trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên”. Trong nhiều nghiên cứu của mình , F .Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản ( tự nhiên, phương tiện vật chất , con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó ( đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi các cá nhân hoặc mỗi nông hộ.
Theo khái niệm của DFID (2003) đưa ra: “Một sinh kế có thể được mô tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. -Theo Bùi Đình Toái (2004),khái niệm sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Khái niệm sinh kế bền vững Quan điểm về sinh kế bền vững theo Robert Chmbers và Gordon Conway (1992) phải đạt được những tiêu chí sau: (i) Ứng phó và phục hồi trước những tác động từ bên ngoài; (ii) Duy trì, phát triển khả năng và vốn (tài sản) của bản thân hay hộ gia đình; (iii) Không ảnh hưởng đến sinh kế của người khác; (iv) Tạo tiền đề cho những cơ hội phát triển kinh tế của thế hệ sau; (v) Đóng góp vào tổng lợi ích kinh tế ở qui mô lớn hơn trong thời gian ngắn cũng như lâu dài. Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990.