Chương 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM SINH KẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH KẾ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 1. Bối cảnh nghiên cứu Sinh kế Ý tưởng về sinh kế đã được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Conway, 1991) trong đó sinh kế theo cách hiểu đơn giản là phương tiện để kiếm sống. Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F. F, 1999), Barrett va Reardon (C.Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (E.
Năm 2001, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về Sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động của mình thì Sinh kế còn được mô tả tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình (DFID, 2001). Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng.phổ biến nhất là cấp hộ gia đình. Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) từ lâu đã là chủ đề được quan tâm trong các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lí môi trường cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững nhiều hơn là phát triển kinh tế.
Taylor, 1996) một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Tim Hanstad, et al. Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: 1) nguồn lực sinh kế, 2) chiến lược sinh kế, 3) kết quả sinh kế, 4) các qui trình về thể chế và chính sách, và 5) bối cảnh bên ngoài.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) Nguồn lực sinh kế (tài sản sinh kế) được coi là yếu tố trọng tâm trong tiếp cận sinh kế bền vững. Đó là năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh bảo sinh kế, bao gồm: Nguồn lực tự nhiên (natural capital): bao gồm tài nguyên thiên nhiên như đất đai, rừng, nước, biển, đa dạng sinh học…, mà con người có thể sử dụng.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn lực vật chất (physical capital): bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầngnhư các tài sản tư nhân, tài sản công cộng hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế Nguồn lực tài chính (financial capital): bao gồm các nguồn vốn khác nhau, có thể là tiền mặt hay tiền tiết kiệm, trang sức, các khoản thu nhập… có thể sử dụng làm vốn luân chuyển. Nguồn lực xã hội (social capital): bao gồm các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội như các mạng lưới xã hội, họ hàng, bạn bè… Nguồn lực con người (human capital): bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục… Các thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các sinh kế. Chúng được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp từ hộ gia đình, đến cấp vùng, quốc gia và quốc tế. Nhưng cũng có khi cùng một chính sách, ở địa phương khác nhau lại có hiệu quả khác nhau.
Đất ruộng và Sinh kế nông nghiệp bền vững Mặc dù tỉ lệ phát triển đô thị ngày càng tăng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là sự phát triển của các thành phố lớn từ đầu những năm đầu của thế kỷ XIX, nhưng đa số dân cư trên thế giới đều đang sống ở nông thôn và ở phần lớn các quốc gia trên thế giới, nông thôn vẫn là chủ yếu (B. Hiện nay giới nghiên cứu và người lập chính sách sử dụng chủ yếu hai biến số về nhân khẩu – quy mô và mật độ tuyệt đối xét về mặt định cư – để xác định nông thôn. Sự tập trung dân cư nông thôn ở các nước thu nhập thấp và tầm quan trọng của xã hội nông thôn trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội khiến cho việc hiểu biết về xã hội nông thôn và các mối tương tác của nó với xã hội đô thị ngày càng có ý nghĩa. Scoones là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn bền vững.
Câu hỏi then chốt được đặt ra trong khung phân tích này là: trong một bối 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh cụ thể (về môi trường, chính sách, chính trị, lịch sử, sinh thái, các điều kiện kinh tế-xã hội), sự kết hợp nguồn lực sinh kế nào sẽ tạo ra khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế (sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa các loại hình sinh kế, di dân) nhằm đạt được các sinh kế nhất định. Mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các quy trình thể chế và chính sách – được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn. Trong các yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững, 5 nguồn lực sinh kế đóng vai trò cốt lõi đối với các hoạt động sinh kế ở các cấp. Tuy nhiên các nguồn lực sinh kế này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài và thể chế - chính sách ở địa phương, có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế (P.2: Khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững (I.
Scoones, 1998) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khung sinh kế nông thôn bền vững cũng coi đất đai là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn. Quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng về nhiều mặt và tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế (Tim Hanstad, et al. Đất đai cũng là một tài sản tự nhiên mà qua đó có thể đạt được các mục tiêu sinh kế khác như đa dạng hóa sinh kế, bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực (P. Đất đai là phương tiện để kiếm sống, là đối tượng để đầu tư, làm giàu và kế thừa giữa các thế hệ.
DFID đã xuất bản tài liệu cố vấn có tựa đề: “Cuộc sống tốt đẹp hơn cho người nghèo: Vai trò của đất đai và chính sách”(DIFD, 2002). Tài liệu này chỉ ra rằng: Sự đảm bảo, an toàn, và đủ năng lực chi trả về đất đai là cần thiết, tuy nhiên không luôn là điều kiện đủ để giảm nghèo. Những tài liệu về chuyển dịch nghèo đói và sinh kế đều nhấn mạnh sự liên hệ giữa sinh kế, nghèo đói và những vấn đề rộng hơn về chuyển dịch ruộng đất (J. Rigg, 2005) Việt Nam là một nước nông nghiệp, quyền sử dụng đất hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng, bao gồm ý nghĩa và giá trị của một phương tiện sản xuất, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị.
Đặc biệt là đối với những người sống ở các cộng đồng nông thôn và ven đô, việc nâng cao mức sống vẫn chủ yếu được thực hiện bằng việc đa dạng hóa các hoạt động nông nghiệp (Worldbank, 2000) sử dụng đất canh tác dường như là sinh kế đầu tiên mà mọi người lựa chọn. Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của người nông dân. Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính. Từ các cánh đồng lúa ở vùng đồng bằng cho đến những thửa ruộng bậc thang vùng miền núi, việc trồng lúa nước từ lâu đã là một đặc trưng cơ bản của nền nông nghiệp Việt Nam (J.
Trong đó Đồng bằng Sông Hồng được nhắc đến như là cái nôi của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Như vậy việc đánh giá sinh kế ĐBSH cần phải nhấn mạnh đến vai trò của các nguồn lực tự nhiên trong đó đất lúa là một trong những nguồn lực quan trọng. Việc trả lời các câu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hỏi: nguồn lực sinh kế nào, chiến lược sinh kế nào, thể chế-chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau. Các kế hoạch phát triển cần phải toàn diện, nhất là phải xác định được những mối tương tác giữa các lĩnh vực làm ảnh hưởng đển sinh kế.
Các nguồn lực sinh kế và các nhân tố tác động đến Sinh kế ĐBSH 1. Các nguồn lực tự nhiên 1. Vị trí địa lý Vùng Đồng bằng sông Hồng là phần lãnh thổ ở phía Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý trong khoảng từ 20000' đến 21020' vĩ độ Bắc và từ 105030' đến 107000' kinh độ Đông, là vùng châu thổ được bao bọc bởi địa hình đồi núi ở ba mặt từ phía Bắc vòng sang phía Tây và xuống phía Nam. Phía Đông của vùng giáp biển Đông được mở rộng ra như đáy của một tam giác với độ dài khoảng 130 km có nhiều cửa sông lớn, vịnh biển kín.