phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng Việt Nam- Chi nhánh Ba Đình Chƣơng 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng Việt Nam- Chi nhánh Ba Đình 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo thuật ngữ kinh tế, “Tín dụng” là một phạm trù kinh tế, thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay. Trong quan hệ này ngƣời cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho ngƣời đi vay trong một thời gian nhất định. Ngƣời đi vay tới kỳ hạn trả nợ có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đã vay, có kèm theo một khoản lãi. Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng đƣợc coi là một quan hệ vay mƣợn lẫn nhau giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay với điều kiện hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định.
Hay nói cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân, tổ chức nhƣờng quyền sử dụng (chuyển nhƣợng) một khối lƣợng giá trị hoặc hiện vật cho cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: số tiền hoàn trả (gốc, lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức cho vay và thu hồi, v. Căn cứ theo Thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nƣớc về việc Quy định về hoạt động cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng, khái niệm về tín dụng NHTM nhƣ sau: “Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp hay các cá nhân (bên đi vay). Trong đó, ngân hàng hay tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn, bên đi vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho tổ chức tín dụng”. 8 Khái niệm trên đƣợc các NHTM và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cấp tín dụng của mình.
Theo đó hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đƣợc hiểu là quá trình cung cấp hoặc cam kết cung cấp nguồn vốn của ngân hàng cho các nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế trong một thời gian nhất định với mục đích lợi nhuận. Các doanh nghiệp sử dụng vốn ngân hàng hoặc sử dụng các cam kết cấp vốn của ngân hàng trong một thời gian với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ gốc và lãi cho việc sử dụng đó. Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế: Trong nền kinh tế thƣờng xuyên có một số các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh có một bộ phận vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi đƣợc tách ra khỏi quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp. Các khoản tiền tệ trên đây luôn đƣợc các doanh nghiệp tìm cách đầu tƣ kiếm lời.
Ngoài ra còn có các khoản tiền để dành của dân cƣ, khi chƣa có nhu cầu sử dụng, họ cũng muốn đầu tƣ để kiếm lời. Tất cả tạo thành nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế. Trong khi đó có một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình; một số cá nhân trong xã hội cần vốn để cải thiện sinh hoạt hoặc đối phó với những rủi ro trong cuộc sống; Ngân sách Nhà nƣớc bị thâm hụt, Nhà nƣớc cần vốn để bù đắp sự thâm hụt đó đảm bảo cân đối thu chi cho nền kinh tế. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại đã thoả mãn những lo lắng của những ngƣời có vốn và đáp ứng nhu cầu của ngƣời cần vốn, có nghĩa là các ngân hàng thƣơng mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần kinh tế và cho vay lại các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế.
Hay nói cách khác: "tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối để những ngƣời có 9 vốn và những ngƣời cần vốn gặp nhau" Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình tập trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế: Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cúng với việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu tiền đột xuất của ngƣời gửi tiền mà các Ngân hàng thƣơng mại đã thu hút đƣợc hầu hết các nguồn tiền nhàn rỗi dù là rất nhỏ từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng đƣợc nhu cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế, hay nói cách khác hoạt động tín dụng đã làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay. Nhờ đó đã góp phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất đƣợc tiến hành một cách trôi chảy đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cố định, vốn lƣu động, bổ sung tăng cƣờng củng cố tài sản cố định làm cho quá trình sản xuất đƣợc tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất lƣu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triền bền vững. Vì vậy có thể nói tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy, củng cố chế độ hạch toán kế toán: Đặc trƣng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả và có lợi tức (gốc và lãi).
Mặt khác, trong khi sử dụng vốn vay, khách hàng có quan hệ ràng buộc với ngân hàng bởi trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải cân nhắc làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí, tăng vòng quay của vốn đảm bảo kinh doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp, đồng 10 thời tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng. Nhƣ vậy thông qua hoạt động tín dụng mà cụ thể là cho vay, ngân hàng có thể kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho ngƣời vay càng có ý thức hơn trong cơ chế quản lý tài chính, quản lý đồng vốn, qua đó tăng cƣờng củng cố chế độ hạch toán kế toán thêm vững chắc. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và kiểm soát lạm phát: Thông qua hoạt động tín dụng, khối lƣợng tiền trong lƣu thông sẽ tăng lên khi thực hiện hoạt động cho vay và ngƣợc lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt động thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lƣợng tiền trong toàn bộ nền kinh tế.
Ngân hàng sử dụng công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng để làm thay đổi khối lƣợng tiền vay, từ đó điều tiết đƣợc khối lƣợng tiền trong nền kinh tế và kiểm soát đƣợc lạm phát, bởi vì tín dụng ngân hàng khi điều tiết đƣợc khối lƣợng tiền tức là khống chế đƣợc khối lƣợng tiền cần thiết cho nhu cầu trao đổi và lƣu thông hàng hoá, nhờ kiểm soát đƣợc giá cả. Hay nói cách khác, việc đƣa tiền vào lƣu thông qua tín dụng ngân hàng là con đƣờng hữu hiệu nhất bởi vì khối lƣợng tiền này đã đƣợc đảm bảo bằng một lƣợng giá trị vật tƣ hàng hoá và tránh đƣợc lạm phát tiền tệ. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển kinh tế với các nước: Thông qua các hình thức nhƣ nhận uỷ thác đầu tƣ, mở và thanh toán thƣ tín dụng, bảo lãnh hàng hoá xuất nhập khẩu, chuyển tiền nhanh đi các nơi.tín dụng ngân hàng đã trực tiếp tham gia trong quan hệ thanh toán quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, tài trợ cho các hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tƣ chiều sâu, đôi rmới công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong nƣớc thúc đẩy sản xuất trong nƣớc phát triển 11 nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu góp phần tăng trƣởng kinh tế và mở ra sự giao lƣu giữa nƣớc ta với các nƣớc khác trên thế giới. Ngoài ra với việc tín dụng ngân hàng nhận các nguồn tài trợ nhƣ ODA, ESAF.từ các nƣớc cấp tín dụng cũng nhƣ các tổ chức tín dụng quốc tế với mục đích tài trợ cho nền kinh tế đã mang lại những kết quả to lớn về kinh tế xã hội đồng thời tăng cƣờng mối quan hệ tốt đẹp giữa nƣớc ta với các nƣớc trên thế giới.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế đất nƣớc. Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn để giải quyết nhu cầu này thoả đáng trong mối quan hệ này, từ đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững, thông qua tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát đƣợc khối lƣợng tiền cung ứng trong lƣu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lƣu thông tiền tệ. Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cƣờng chế độ hạch toán kinh doanh, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh. Phân loại tín dụng ngân hàng Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu.
Tuy nhiên, thông thƣờng ngƣời ta thƣờng phân loại theo một vài yếu tố sau: - Thời hạn tín dụng: Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay đến 12 tháng. Loại hình tín dụng này thông thƣờng đƣợc áp dụng với nhiều loại hình khách hàng dƣới hình thức vay hạn mức hay từng lần. Thông thƣờng khách hàng sẽ có một phần tài sản để bảo đảm cho toàn bộ món vay. 12 Tín dụng trung hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng.