phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lƣơng thực thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Chƣơng 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lƣơng thực thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Chƣơng 4: Một số kiến nghị nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đã xuất bản các giáo trình, tài liệu có liên quan đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Trong đó, các tác giả đã đề cập đến những quan điểm khác nhau về khái niệm rủi ro tài chính doanh nghiệp, việc phân tích những nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính. Bên cạnh các giáo trình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến rủi ro tài chính, cho đến nay thì đề tài nghiên cứu của các tác giả về phân tích rủi ro tài chính, đặc biệt là đề tài phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán tại Việt Nam vẫn chƣa đề cập nhiều. Sau đây là một số đề tài nghiên cứu và bài báo có liên quan đến chủ đề của đề tài mà tác giả đã tìm hiểu.
Đề tài: “Rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và các biện pháp phòng ngừa” của tác giả Nguyễn Thanh Tâm (2008) có nội dung nhƣ sau: Tác giả tập trung vào việc tổng hợp các vấn đề lý luận về phân tích rủi ro trong doanh nghiệp, dựa trên những cơ sở lý thuyết về rủi ro để nhận diện các Luan van 5 loại rủi ro ảnh hƣởng đến doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhƣ: rủi ro về giá cả, hối đoái, lãi suất, rủi ro từ các hoạt động và giao dịch hợp đồng, đàm phán với đối tác kinh doanh. Từ những thực trạng rủi ro tài chính của doanh nghiệp, tác giả đã đƣa ra các dự báo, các giải pháp trong công tác quản trị rủi ro cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhƣ: xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn thống nhất đối với rủi ro tài chính, cải thiện cơ chế xây dựng chính sách phù hợp với thực tiễn, định hƣớng phát triển đa dạng và phát triển các kênh huy động vốn. Đề tài: “Quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp ngành thuốc bảo vệ thực vật” của tác giả Phan Văn Tròn (2011) có nội dung nhƣ sau: Tác giả mới chỉ dừng lại ở phân tích và đánh giá thực trạng rủi ro tài chính thông qua các biến lãi suất, giá cả, hối đoái, rủi ro từ các đối tác giao dịch bằng cách dùng phƣơng pháp nghiên cứu định tính với việc phỏng vấn sâu cán bộ quản trị doanh nghiệp ngành thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam. Từ đó đƣa ra một số kiến nghị với mục đích nâng cao quản trị rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp và Nhà nƣớc.
Đề tài của tác giả chỉ đi sâu vào công tác quản trị rủi ro tài chính, chứ cũng chƣa đi vào phân tích và xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính của ngành thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam. Đề tài:“Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2011) có nội dung nhƣ sau: Tác giả đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Tác giả đã đi phân tích rủi ro kinh doanh thông qua các chỉ tiêu nhƣ: đòn bẩy kinh doanh, mức độ phân phối giữa chi phí biến đổi và chi phí cố định, phƣơng sai, độ lêch chuẩn, hệ số biến thiên và các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro kinh doanh nhƣ: Luan van 6 sự biến đổi nhu cầu thị trƣờng, sự biến đổi giá bán, sự biến đổi giá cả và các yếu tố đầu vào, khả năng thay đổi giá bán khi có sự thay đổi của giá đầu vào. Tác giả đã phân tích rủi ro tài chính thông qua các chỉ tiêu nhƣ: độ biến thiên của ROE, thông qua đòn bẩy tài chính, thông qua khả năng thanh toán, thông qua độ nhạy cảm với lãi suất, biến động giá cả và tỷ giá và phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính nhƣ: rủi ro kinh doanh, tỷ lệ nợ, lãi suất, tỷ giá, giá cả.
Từ đó, tác giả đã đƣa ra các giải pháp nhằm kiểm soát các rủi ro của công ty nhƣ: lựa chọn chính sách phù hợp để giảm bớt tỷ lệ nợ, phát hành thêm cổ phiếu, huy động vốn trong nội bộ của công ty, hạn chế sự biến động của chi phí lãi vay, sử dụng hiệu quả nguồn vốn của công ty, các giải pháp nhằm giảm rủi ro về tỷ giá hối đoái. Đề tài:”Phân tích rủi ro tài chính và rủi ro phá sản của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành nhựa – bao bì niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Lê Thị Mỹ Dung (2013) có nội dung nhƣ sau: Tác giả đã tổng hợp các vấn đề lý luận về phân tích rủi ro tài chính và rủi ro phá sản. Dựa trên những cơ sở lý luận của mình, tác giả chỉ dừng lại ở mức độ căn bản về việc tính các chỉ tiêu tài chính có liên quan đến rủi ro tài chính và rủi ro phá sản, chứ chƣa đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hƣởng. Theo đó, tác giả phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính dựa trên cơ sở suy luận từ cách thức đo lƣờng chỉ tiêu ROE, các mối quan hệ giữa ROE với các yếu tố có liên quan trong quá trính quản lý, quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Cụ thể, phân tích rủi ro tài chính thông qua chỉ tiêu sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu của 22 doanh nghiệp ngành nhựa – bao bì niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, với việc phân chia doanh nghiệp ra thành hai nhóm dựa vào đòn bẩy tài chính và phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu nhƣ: quy mô doanh Luan van 7 nghiệp, mức độ đầu tƣ vào tài sản dài hạn, mức độ vay vốn, tốc độ tăng trƣởng của tài sản, mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Đối với việc phân tích rủi ro phá sản tác giả tập trung đánh giá về rủi ro mất khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn và sử dụng mô hình chỉ số Z-score để đánh giá rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Từ những phân tích về rủi ro tài chính và rủi ro phá sản, tác giả đã đƣa ra các biện pháp nhƣ: kiểm soát tốc độ tăng trƣởng tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, xác định cơ cấu vốn hợp lý để đối phó với rủi ro tài chính. Các biện pháp nhƣ: quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản, quản lý và sắp xếp các khoản nợ theo trật tự ƣu tiên, tăng chỉ số Z để giảm thiểu khả năng phá sản, kiểm soát chặt chẽ dòng tiền, để đối phó với rủi ro phá sản của các doanh nghiệp ngành nhựa – bao bì niêm yết.
Đề tài:“Nghiên cứu rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hậu (2013) có nội dung nhƣ sau: Tác giả đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính với bảng câu hỏi để phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản trị doanh nghiệp và phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng nhằm xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính theo phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất (OLS) để phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính của 105 doanh nghiệp doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007- 2011. Tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp công nghiệp với các biến nhƣ sau: Biến phụ thuộc: đo lƣờng thông qua các hệ số khả năng thanh toán (hệ số khả năng thanh toán tổng quát, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán nhanh) Biến độc lập bao gồm: (1) cơ cấu nợ, đo lƣờng bởi hệ số nợ ngắn hạn trên nợ dài hạn, (2) khả năng sinh lời, đo lƣờng bởi tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay, tỷ suất sinh lời kinh tế của Luan van 8 tài sản, tỷ suất sinh lời của tài sản, tỷ suất lợi nhuận giữ lại, (3) hiệu suất hoạt động, đo lƣờng bởi vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tài sản cố định, vòng quay tài sản, vòng quay các khoản phải thu, (4) cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản, đo lƣờng bởi tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất đầu tƣ tài sản cố định, (5) lãi suất, hai biến giả là ngành cấp 1 và trạng thái kiểm soát. Kết quả nghiên cứu định lƣợng cho thấy rủi ro tài chính có quan hệ ngƣợc chiều với khả năng sinh lời, hiệu suất hoạt động, cơ cấu nguồn vốn, không có mối tƣơng quan tuyến tính với cơ cấu nợ, quy mô dữ liệu của yếu tố lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng đối với ngành công nghiệp còn hạn chế cho thấy những đánh giá tác động của lãi suất đến rủi ro tài chính không đủ căn cứ. Cũng theo nghiên cứu này, rủi ro tài chính còn có thấy sự khác biệt giữa các lĩnh vực công nghiệp.
Cụ thể, trong ba ngành của phân ngành cấp 1, thì các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo có mức rủi ro tài chính cao nhất, tiếp đến là doanh nghiệp ngành khai khoáng và cuối cùng là các doanh nghiệp ngành điện, khí, nƣớc. Từ những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã đƣa ra một số giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tài chính nhƣ: nâng cao nhận thức về rủi ro và quản trị rủi ro, nâng cao tính minh bạch về thông tin doanh nghiệp, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản.