CHƯƠNG 1. Tổng quan về rủi ro 1. Khái niệm Theo trường phái cổ điển: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái trung hòa: Rủi ro là những bất định có thể đo lường được, có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực (mất mác, tổn thất, nguy hiểm nhưng cũng có thể là cơ hội).
Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn.Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn.Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro. Các thành phần của rủi ro Mối đe dọa: các loại nguy hiểm có thể mang lại lợi ích hoặc tổn thất, sẽ trở thành hiểm họa nếu như được gia tăng khả năng xảy ra và tổn thất nếu có là rất lớn. Như: sai lầm của con người, chủ tâm gây hại, tình huống xấu, xâm hại tự nhiên. Nguồn: môi trường mà trong đó mối đe dọa (hiểm họa) tồn tại và phát triển.
Như: nguyên nhiên liệu, lao động, sản phẩm,… Các nhân tố thay đổi: có xu hướng tăng hoặc giảm khả năng và tổn thất của rủi ro. Đa số mối nguy hiểm là nguyên nhân của một biến số. Thay đổi dẫn tới sự bất định và gây ra những hậu quả khi có sự cố rủi ro. Quản trị rủi ro – Nhóm 2 Tieu luan 4 Hậu quả: kết quả xuất hiện khi rủi ro xảy ra, có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực và kết quả gián tiếp xảy ra ngay sau đó như: hư hỏng tài sản, tổn thất thu nhập, gián đoạn kinh doanh hay phá sản,.
Phân loại rủi ro Dựa trên cơ sở thang đo tiền tệ: - Rủi ro không có tổn thất về thang đo tiền tệ. - Rủi ro có tổn thất về thang đo tiền tệ. Dựa trên cơ sở nguyên nhân tác động: - Rủi ro động: Xuất hiện khi có thay đổi từ môi trường kinh doanh dẫn đến những tổn thất cho riêng công ty, nhóm công ty thuộc một lĩnh vực cụ thể (thị phần, khách hàng, công nghệ…) - Rủi ro tĩnh: Rủi ro tĩnh là kết quả của sự thay đổi trong môi trường kinh doanh (thay đổi sở thích người tiêu dùng, thay đổi công nghệ, thay đổi lãi suất…) tác động đến tất cả lĩnh vực, các công ty, doanh nghiệp, cá nhân… - Rủi ro tĩnh có thể ảnh hưởng đến nhiều đối tượng và thiệt hại nếu có thường rất lớn vì đối tượng bị ảnh hưởng thường chủ quan cho rằng nó không nguy hiểm bằng rủi ro động. Dựa trên cơ sở có phát sinh lợi ích: - Rủi ro thuần túy: Là loại rủi ro chỉ mang lại những hậu quả không có lợi hoặc những tổn thất.
Loại rủi ro này có đặc điểm sau: Thứ nhất, rủi ro thuần túy nếu xảy ra thường đưa đến kết quả mất mát hoặc tổn thất. Thứ hai, rủi ro thuần túy là loại rủi ro liên quan đến việc phá hủy tài sản (nếu hỏa hoạn thì tòa nhà bị phá hủy). Thứ ba, biện pháp đối phó với rủi ro này là bảo hiểm. Quản trị rủi ro – Nhóm 2 Tieu luan 5 - Rủi ro suy đoán: Là loại rủi ro vừa có thể mang lại tổn thất nhưng cũng có thể mang lại lợi ích.
Rủi ro suy đoán là loại rủi ro thường xảy ra trong thực tế. Ví dụ, rủi ro thay đổi giá cả, mức thuế không ổn định, tình hình chính trị không ổn định. Tăng giá có thể mang lại nhiều lời cho người có tồn kho nhiều và giảm giá làm họ bị thua thiệt lớn. Những rủi ro thuần túy thì luôn làm cho người ta khó chịu, nhưng những rủi ro suy đoán có mặt hấp dẫn của nó.
Dựa trên cơ sở nguồn gốc phát sinh: - Rủi ro do môi trường thiên nhiên. - Rủi ro do môi trường văn hóa. - Rủi ro do môi trường xã hội. - Rủi ro do môi trường chính trị.
- Rủi ro do môi trường luật pháp - Rủi ro do môi trường kinh tế. - Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. - Rủi ro do môi trường nhận thức của con người. Dựa trên cơ sở môi trường quản trị doanh nghiệp: - Rủi ro môi trường bên trong: theo lĩnh vực quản trị, bộ phận, phòng ban, chuỗi giá trị.
- Rủi ro môi trường bên ngoài: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. Dựa trên cơ sở đối tượng chịu rủi ro: - Rủi ro về tài sản: khả năng được hay mất đối với tài sản vật chất (nhà máy, thiết bị, phương tiện vận tải.), tài sản tài chính (vốn, tiền mặt, cổ phiếu, trái phiếu…), tài sản vô hình (danh tiếng, thương hiệu.) - Rủi ro về nhân lực: gây tổn thương, thương vong, giảm thu nhập, mất mát nhân sự ở cấp quản lý, nhân viên hay các đối tượng có liên quan,… Quản trị rủi ro – Nhóm 2 Tieu luan 6 - Rủi ro pháp lý: liên quan đến tranh chấp kiện tụng kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Rủi ro pháp lí có nguồn gốc từ: Do thay đổi về luật pháp liên quan đến kinh doanh, Thiếu kiến thức về pháp lý, Thiếu chặt chẽ trong những hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư, Vi phạm pháp luật quốc gia như luật chống độc quyền… 1. Quản trị rủi ro 1.
Khái niệm Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổ thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công. Nội dung quản trị rủi ro Nhận dạng rủi ro: Quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của tổ chức. Tìm kiếm thông tin về: nguồn gốc, mối nguy hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại rủi ro và các loại tổn thất có thể. Thống kê các loại rủi ro đã và đang xảy ra và dự báo những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện.
Phân tích rủi ro: Xác định những nguyên nhân, mối nguy hiểm nào gây ra rủi ro, trên cơ sở đó tìm ra biện pháp phòng ngừa. Không phải mỗi rủi ro chỉ do một nguyên nhân, mối nguy hiểm đơn nhất, mà thường do nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng, tác động. Đo lường rủi ro: Thu thập số liệu và phân tích, đánh giá theo hai khía cạnh: tần suất (tần số) xuất hiện rủi ro và mức độ nghiêm trọng (tác động) rủi ro. - Tần số: số lần xảy ra tổn thất, khả năng xảy ra biến cố nguy hiểm đối với tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm).
- Mức độ nghiêm trọng: trọng số kết quả của những tổn thất, mất mát, nguy hiểm. Quản trị rủi ro – Nhóm 2 Tieu luan 7 Kiểm soát – Phòng ngừa rủi ro: Kiểm soát - Phòng ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động. để né tránh, ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những tổn thất, ảnh hưởng không mong đợi đến tổ chức, doanh nghiệp. Các biện pháp cơ bản để kiểm soát rủi ro: Né tránh rủi ro; Ngăn ngừa tổn thất; Giảm thiểu tổn thất; Chuyển giao rủi ro; Đa dạng rủi ro.
Tài trợ rủi ro: Là lượng tiền được dùng để ngăn ngừa, kiểm soát các rủi ro hoặc bù đắp, khắc phục, tái đầu tư một phần hay tất cả các tổn thất (nếu có) khi rủi ro xảy ra. Có 2 hướng để tài trợ rủi ro: Lưu giữ rủi ro (tự khắc phục rủi ro) & Chuyển giao rủi ro. Các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro Quy mô tổ chức: lớn thì rủi ro lớn, nhỏ thì rủi ro nhỏ. Tiềm lực tổ chức: tài chính, nguồn lực con người mạnh hay yếu.
Môi trường, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đặc thù: tổ chức hoạt động: ít hay nhiều rủi ro. Nhận thức lãnh đạo tổ chức: Có coi trọng công tác quản trị rủi ro hay không? 1. Lợi ích của quản trị rủi ro đối với doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp tổ chức hoạt động ổn định. Giúp doanh nghiệp thực hiện mục tiêu sứ mệnh, chiến lược kinh doanh.
Giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn. Rủi ro nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm Theo GS.
Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động, bao gồm: thế lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội Quản trị rủi ro – Nhóm 2 Tieu luan 8 nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai”. Từ quan niệm trên, có thể hiểu Nguồn nhân lực là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quá trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực, tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Phân loại nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có sẵn trong khu dân cư Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc Độ tuổi lao động là giới hạn những điều kiện cụ thể, tâm lý xã hội mà con người tham gia vào quá trình lao động.
Giới hạn độ tuổi lao động được quy định tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ. Giới hạn độ tuổi lao động bao gồm: - Giới hạn dưới: quy định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao động ở nước ta hiện nay là 15 tuổi. - Giới hạn trên: quy định độ tuổi về hưu, ở nước ta quy định độ tuổi này là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam. Nguồn lực có sẵn tỏng dân cư chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong dân số, thường từ 50% hoặc hơn nữa, tùy theo đặc điểm dân số và nhân lực từng nước.