CHƯƠNG 1 LY LUAN CHUNG VE RUI RO VA QUAN TRI RUI RO TRONG KINH DOANH QUOC TE 1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh quốc tế 1. Khái niệm rủi ro Rủi ro là một khái niệm hết sức quen thuộc, đến mức mà người ta có thể hiểu ngay mà chẳng cần biết đến định nghĩa của nó. Tuy nhiên, rủi ro lại là một trong số những thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa và các cách này lại không hoàn toàn nhất trí với nhau.
Thứ nhất là định nghĩa do Allan H. Willett! khởi xướng: “rủi ro là sự không chắc chắn về tốn thất”. Quan điểm này được nhiều học giả như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Kulp, Anghel ủng hộ. Quan điểm thứ hai cho ring: “nti ro là khả năng xảy ra tốn thất”.
Quan điểm này được đề cập lần đầu tiên trong nghiên cứu của John Haynes”, sau đó dugc Irving Pfeffer trinh bay rất rõ trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tết. Định nghĩa này sau đó cũng được sử dụng trong khá nhiễu tài liệu về rủi ro. Một số học giả như Magee, Mehr và Cammack đại diện cho quan điểm thứ ba lại coi hai định nghĩa trên là tương đương nhauế. Đặc biệt Frank H.
Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rửi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”, Một định nghĩa gần ' Willett, Alan H., The Economic Theory of Risk and Insurance (Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1951). Hardy, Risk and Risk Bearing (Chicago: The University of Chicago Press); Albert H. Mowbray and Ralph H. Blanchard, Insurance (5" ed.; New York: McGraw-Hill Book Company, Inc.
Crobough and Amos E, Redding, Casualty Insurance (New York: Prentice-Hall, Inc. Kulp, Casualty Insurance (New York: The Ronald Press Company); Frank Joseph Angell, Insurance, Principles and Practices (New York: The Ronald Press Company). 3 John Haynes, “Risk as an Economic Factor”, The Quarterly Journal of Economics, IX No. “Pfeffer, Irving, insurance and Economic Theory (Homewood, Illinois: Richard D.
Edward Hedges and Walter Williams, Practical Fire and Casualty Insurance (Cincinnati: The National Underwriter Company); Albert H. Mowbray, Insurance (1* ed.; New York: McGraw-Hill Book Company, Inc.); Insurance Department, Chamber of Commerce of the United States, Dictionary of Insurance Terms. Magee, General Insurance (6® ed.; Homewood, Illincis: Richard D. Mehr and Emerson Cammack, Principles of Insurance (Homewood, Illinois: Richard D.
7 « Rui ro la sy không chắc chan cé thé do lường được”:, Frank H. Knight, Risk, Uncertaity and profit, Boston and New York, trang 233 6 tương tự cũng tìm thấy trong cuốn từ điển Kinh tế học hiện đại” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành. Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Thân trong cuốn Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh cũng quan niệm “Rui ro là sự bất trắc gây ra mắt mát, thiệt hạt". Ngoài ra, cũng có một số cách định nghĩa về rủi ro khá hẹp, chỉ có giá trị trong một lĩnh vực nhất định.
Chẳng hạn giới kinh doanh bảo hiểm coi các đối tượng được bảo hiểm cũng là rủi ro”. Phân tích các định nghĩa cho thấy, tuy có sự khác biệt nhưng các định nghĩa này đều đề cập tới hai thuộc tính cơ bản của rủi ro, đó là: Kết quả không thể xác định chắc chắn: một khi tồn tại rủi ro trong một sự kiện hay hành động, sẽ phải có ít nhất hai kết quả có khả năng xảy ra. Nếu một sự kiện hay hành động mà kết quả của nó được biết chắc chắn thì sẽ không thể có rủi ro gắn với sự kiện hay hành động đó. Chẳng hạn việc đầu tư vào các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị.
sẽ phải đối mặt với những tốn thất do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra. Kết quả này người đầu tư hoàn toàn biết trước nên việc phải gánh chịu những tổn thất nói trên không được coi là rủi ro. Kết quả không mong muốn: trong các kết quả có thé xảy ra, ít nhất có một kết quả là không mong muốn. Kết quả không mong muốn thường được hiéu là một tôn thất hay thiệt hại về của cải hoặc con người.
Tuy nhiên, tất cả những định nghĩa này đều có những điểm không rõ ràng và không phù hợp với lĩnh vực quản trị rủi ro. Trước hết, việc định nghĩa “rủi ro là sự không chắc chắn về tôn that’ sé dan dén sự không rõ ràng và thiếu nhất quán trong xác định rủi ro. Trong thực tế, từ “không chắc chắn” thường được hiểu là sự hoài nghỉ mang tính chủ quan của con người về tương lai, phản ánh sự hạn chế trong khả năng nhận thức của con người về hiện tại và tương lai. Khả năng nhận thức này khác nhau giữa người này với người khác.
Ngay với cùng một người, khả năng nhận thức cũng có thể thay đôi theo thời gian. Do vậy, nếu định nghĩa: rửi ro là sự không chắc chắn vẻ tồn thất thì rủi ro sẽ là một khái niệm thay đổi theo thời gian và khác nhau tùy theo nhận thức của mỗi người. Ví dụ: có hai ngôi nhà cùng ở gần một kho chứa xăng dầu và cùng đối diện với nguy cơ bị cháy như nhau khi kho 8 “Búi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp qui mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất”, David W. Pearce, Tir dién Kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia.
* Hiệp hội bão hiểm và rũi ro Mỹ định nghĩa: “zửi ro là 1⁄sự không chắc chẳn về kết quả của một sự kiện khi mà có nhiều hơn hai khả năng tôn tại; hoặc 2/ con người hay tài sản được bảo hiểm”. 7 chứa bị cháy, nỗ. Tuy nhiên đánh giá về nguy cơ này có thể không giống nhau giữa hai người chủ của hai ngôi nhà. Một người có thể lo lắng đến nguy cơ này và coi đó là một rủi ro.
Nhưng người kia có thể không hề quan tâm và do đó không coi đó là rủi ro. Nhận thức về một rủi ro còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của từng người về rủi ro đó. Một đứa trẻ chưa bị giật điện bao giờ sẽ không coi là có rủi ro bị giật điện khi nó nghịch ổ cắm điện. Như vậy định nghĩa rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất sẽ khiến cho khái niệm rủi ro trở nên thiếu chính xác và không nhất quán do một sự kiện hay hành động có thể hàm chứa rủi ro theo quan niệm của người này nhưng lại không được coi là có rủi ro theo suy nghĩ của người khác.
Định nghĩa “rửi ro là khả năng xảy ra tốn thất” có thể xem là khắc phục được tính chất chủ quan trong định nghĩa trước đó về rủi ro. Đó là vì “khả nang xảy ra một sự kiện” vẫn được thừa nhận rộng rãi là phản ánh trạng thái khách quan của sự kiện, nó tổn tại không phụ thuộc vào nhận thức của con người về khả năng đó. Tuy nhiên, nhiều học giả như Willett, Knight, Crobough và Redding. cho rằng “sự không chắc chắn” trong định nghĩa về rủi ro phải được nhìn nhận dưới góc độ “xác suất”.
Xét về mặt xác suất, có 3 tình huống có thể xảy ra với một sự kiện: “không thể xảy ra” (tương ứng với xác suất bằng 0), “chắc chắn xảy ra” (trơng ứng với xác suất bang 1), và “không chắc chắn” (tương ứng với xác suất nhỏ hơn 1 và lớn hơn 0). Như vậy ở đây “sự không chắc chắn” dùng để chỉ khả năng xảy ra một sự kiện khi xác suất xảy ra sự kiện đó nằm giữa 0 và 1, do vậy nó hoàn toàn mang tính khách quan. Với phân tích như vậy thì định nghĩa “rủi ro là sự không chắc chắn mang tính khách quan về tổn that” sẽ không khác gì với định nghĩa “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”. Điều này giải thích tại sao có nhiều học giả đã ghép chung cả hai định nghĩa này với nhau.
Tuy nhiên, nếu chỉ định nghĩa “rủi ro là sự không chắc chắn” mà không nhắn mạnh bản chất khách quan của “sự không chắc chắn' thì sẽ làm cho định nghĩa không rõ ràng, không rõ "sự không chắc chắn" trong định nghĩa được hiểu dưới góc độ tâm lý hay xác suất, Định nghĩa “rủi ro là sự không chắc chắn có thé do lường được” của Frank H. Knight lại chỉ nhẫn mạnh tới khía cạnh đo lường của rủi ro. Rõ ràng, có thẻ thấy định nghĩa này là quá hẹp vì có nhiều rủi ro mà xác suất xảy ra nó không thê đo lường được như rủi ro chiến tranh hạt nhân, rủi ro sóng thần. hay như trong kinh doanh, rủi ro giá cả một hàng hoá tăng hay giảm cũng rất khó đo lường.
Song, nó lại có ý nghĩa ứng dụng cao vì trên thực tế chúng ta không thể đưa ra được một quyết định đối phó với rủi ro nêu như không thê xác định được khả năng xây ra nó. 8 Nói một cách khác, nếu không thê đo lường được khả năng tồn tại tôn thất thì cũng chẳng thể có được biện pháp nào để đối phó với nó. Do vậy, định nghĩa này đã tạo cơ sở cho việc ứng dụng các công cụ lượng hoá vào quản trị rủi ro. Cuối cùng, điểm hạn chế chung của các định nghĩa nêu trên là chỉ gắn rủi ro với tổn thất.
Trong kinh doanh, khả năng kết quả cuối cùng sai lệch so với dự tính theo chiều hướng bất lợi cũng được xem là một loại rủi ro. Các định nghĩa nêu trên đã không bao quát được loại rủi ro này. Việc các định nghĩa trên chỉ gắn rủi ro với tôn thất là điều dễ hiểu vì chúng phan lớn được giới nghiên cứu về bảo hiểm đưa ra. Đối tượng của bảo hiểm chỉ giới hạn ở các tổn thất về mặt tài chính mà không bao hàm những sai lệch không mong muốn so với đự tính.
Tóm lại, qua phân tích các định nghĩa phổ biến về rủi ro có thể thấy những định nghĩa này gặp phải những hạn chế vẻ tính không rõ ràng, thiếu thống nhất và kém linh hoạt trong vận dụng. Không có định nghĩa nào bao quát được hết mọi khía cạnh rủi ro mà nhà quản trị phải đối mặt trong quá trình ra quyết định. Do vậy cần thiết phải có một định nghĩa thích hợp hơn cho lĩnh vực quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng. Trên cơ sở những phân tích về khái niệm rủi ro ở trên, nhóm nghiên cứu để xuất một định nghĩa mới về rủi ro như sau: Rải ro là một tình buông của thể giới khách quan trong đó tần tại khả năng xây ra một sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự títh hay mong chờ.