CHƯƠNG 1.1 Gidi thiệu Két cau cáp là hệ kết cầu được tạo bởi những dây mềm chỉ chịu kéo, bỏ qua khả năng kháng uốn của dây. Kết cau cáp còn được dùng kết hợp với các hệ kết cau cứng khác như: tam, dầm, dan hoặc vom nối với nhau băng các liên kết để cùng tham gia chịu lực. Trong kết cầu cáp liên hợp, cáp chủ yếu chịu kéo được làm từ thép các bon thấp, thép cường độ cao, thép không gỉ, polyester, hoặc sợi aramid. Tam, dầm chủ yếu chịu uốn, vòm chủ yếu chịu nén.
dan chủ yếu chịu kéo nén nên tam dàn và vòm thường làm bằng kết cấu bê tông cốt thép, kết cầu thép. Ưu điểm dễ thay nhất của kết cầu cáp là tận dụng được khả năng làm việc của vật liệu nên tối ưu được kha năng chịu lực và tính kinh té. Trong ngành xây dựng, kết cau cáp được sử dung trong kết cấu mái treo dùng trong các sân vận động, nhà triển lãm, ga hàng không.Trong ngành giao thông, kết cau cáp được dùng trong cau treo, cầu dây văng.Trong ngành du lịch, kết cấu cáp được dùng dé treo các carbin dé phục vu cáp treo du lịch. Trong ngành hàng hải và khai thác, kết cau cáp được sử dụng để neo, đậu các tàu thuyền và đỡ các trụ khai thác ngoài khơi.
Trên thế giới kết cau cáp được ứng dụng sớm trong ngành giao thông: tại Anh cầu treo đầu tiên vượt 21m được xây dựng năm 1741 bắc qua Sông Tess, năm 1802 cầu này bị sập đồ và được xây dựng lại để thay thế vào năm 1830 như Hình 1. Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và công nghiệp, năm 1896 lần đầu tiên trên thế giới kỹ sư V.Shukhov người Nga dùng kết cấu cáp để thiết kế mái với các dạng tròn (D=68m), ô van (Dmax=100m) và hình chữ nhật (30x70m) như Hình 1. Đến năm 1932 công trình tiếp theo sử dụng kết cau dây là công trình Băng tải nâng hàng ở Allbaney (Mỹ). Từ đó đến nay nhiều công trình sử dụng kết cấu dây đã được xây Tổng quan 2 dựng.
nó đã trở thành biéu tuong van hoa, khoa hoc ky thuat, diém tham quan du lịch, niềm tự hào của dia phương và của Quốc gia có công trình kiến trúc sử dụng loại kêt cầu này. 2/2 ì _ IS Ss 4 3 INN` | ĐA. Wksy: SS š \À \về heatae Hình 1.2 Kết cấu triển lãm nghệ thuật ở Nizhny Novgorod, thiết kế bởi kỹ sư người Nga Vladimir Shukhov năm 1896.2 Các loại kết cau điển hình sử dụng kết cau cáp 1.1 Cầu treo Từ thé ki thứ XIX, nước Mỹ là nơi xây dựng nhiều cau treo nhịp dai nhất, kết cầu cáp kim loại dạng song song do Roebling đề xuất được áp dụng lần đầu tiên khi xây dựng cầu Niagara bắt qua sông Niagara nỗi giữa Canada va Hoa Kỳ với nhịp chính dai 246m, hoàn thành năm 1855 như Hình 1. Sau đó là cầu Brooklyn được xây dựng tại New York dài 1852m khánh thành vào 24/05/1883 như Hình 1.
Năm 1937 Mỹ cũng xây dựng cầu Golden Gate với nhịp giữa 1280m, tháp bằng thép cao 227m, cáp chủ dùng hai bó cáp, mỗi bó cáp đường kính 90cm Hình 1. Năm 1998, Nhật hoàn thành cầu Akashi Kaikyo với nhịp chính 1991m, dài nhất thé giới thời điểm đó như Hình 1.3 Cầu Niagara nối Canada và Hình 1. Tổng quan 4 Hình 1.5 Cầu Golden Gate năm 1934, tại Hình 1.6 Cầu Akashi Kaikyo (Nhat), SanFrancisco, nhịp chính dài 1280m. nhịp chính dài 1991m Cáp chính gồm tổ hợp các bó sợi cáp song song là bộ phận chịu lực chính của câu, nâng đỡ dầm/ dàn cứng và hệ mặt cau, đồng thời truyền tải trọng qua tháp cầu đến trụ cầu và nền móng.
Sự truyén tải trọng từ dầm/ dàn lên cáp chính được thực hiện thông qua các dây treo hoặc thanh treo. Hệ kết cấu câu treo điển hình gồm hai tháp cao ở hai đầu, sàn cầu bê tông cốt thép hoặc thép, hai dây cáp lớn căng ngang nối hai đỉnh tháp và dây cáp nhỏ treo sàn bê tông cốt thép vào dây cáp lớn như Hình 1. Cáp chính lu ont J eee «lt ae ‘use Dam (dan) cứng đ! He -—_ L2 4 ` peat — NÀY <LI x Yên ngựa của cáp neo Khối neo Khối đỡ yên ngựa của cắp neo Dam neo Hình 1.7 Sơ đồ kết cấu cáp chịu lực điển hình của cầu treo.2 Kết cấu cáp treo mái Trong những năm 1950 có nhiều tiến bộ đáng ké trong việc tìm hiểu va phân tích kết cầu cáp đỡ mái, đỉnh cao trong kết cấu này là dự án Olympic Roof thiết kế cho thế vận hội 1972 tại Munich, Đức như Hình 1. Kết cấu cáp đỡ mái cũng làm giảm áp lực lên các kết cấu bên trên, sử dụng vật liệu ít hơn và yêu cầu tương đối cao về vật liệu.
Hầu hết các kết cấu mái rơi vào hai loại: (1) cáp treo; hoặc (2) dây hỗ trợ. (1) cáp treo dùng dé trực tiếp treo các kết cầu mái; và (2) trường hợp thêm tải trong, Tổng quan 5 chăng hạn như khung trần, bị đình chỉ trực tiếp từ bên dưới và cáp, tải trọng mái Hình 1.8 Cáp mái thiết kế cho thé vậnhội Hinh 1.9 Diplomatic Club Heart Tent, 1972 tại Munich, Đức 1980, Riyadh, Saudi Arabia Olympic Stadium, Munich trình thế vận hội 1972 tại Munich, Đức 1.3 Kết cấu cáp neo cột Cáp dùng để đỡ cột viễn thông theo phương đứng. Mục đích sử dụng cáp trong trường hợp này là hỗ trợ độ cứng tương đối cho cột, làm giảm kích thướt hình học Tổng quan 6 của cột và làm giảm tải trọng bên ngoài tác dụng lên kết cấu, nội lực bên trong cột và vật liệu sử dụng được giảm đáng kể.12 là công trình trạm thu phát sóng Beckley, Oxfordshire, cao 154.4m minh họa cho kết cầu này.12 Tram thu phát sóng Beckley, |= Hình 1.13 Mô hình cột tháp được neo Oxfordshire, cao 154.4 Ket cầu cap neo các két cau nước sâu Giống như cáp neo cột viễn thông. Trong trường hợp này, kết cau tháp theo phương đứng dùng dé đỡ các thiết bị nặng bên trên mực nước biến và nó được giữ lại thông qua cáp như Hình 1.
Do qui mô lớn hơn so với cáp trên mặt đất nên kích thướt và trọng lượng của cáp cũng lớn hơn rất nhiều. Yếu tố hình học của cáp và trọng lượng của hệ thống cáp được xem xét. Kết cấu cáp trong trường hợp này còn chịu tác động của nước hoặc tác động va chạm. Thông thường cáp được thiết kế trong điều kiện bão lớn, xét ảnh hưởng đồng thời chuyển động của tháp.
Các ứng xử như vậy thường phức tạp hon do các hình thức phi tuyến tính khác nhau. tăng độ cứng, tải trọng tác dụng và tăng độ biến dạng. Tổng quan 7 Ss = DXDox il att ~.+, om Ae x< CPx DKCEDX C4 KNY/WWN Hình 1.14 Cap neo cột dé đỡ các thiết bị bên trên mực nước 1.5 Hệ thống dây xích neo các phao chịu tải trọng ngoài khơi Hệ thống dây xích dùng dé hạn chế tải trọng nước bên ngoài tác động hoặc dùng dé neo các phao chở dau vĩnh viễn. Dây xích dùng dé chịu tải trọng theo phương đứng khi neo tàu nổi như Hình 1.
Do tải trọng nặng nên khi có bão tác động lên phao hoặc các tàu chở dau gây ra chuyển vị ngang là đáng kê. Luc giữ lại theo phương ngang là lực thông qua độ cứng của hệ thống dây xích được cung cấp ban. YSIS UN/A\\ Hinh 1.15 Mo hinh cap neo tau Hình 1.16 Cap neo tau ngoài khơi Tổng quan 8 1.3 Tình hình nghiên cứu và tinh cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều phương pháp số được thiết lập để tính toán và phân tích ứng xử của kết cau cáp chịu tải trọng tĩnh và động học có xét đến yếu tố phi tuyến hình học của cáp.1 Cac công trình nghiên cứu trên thé giới Các phương pháp phân tích kết cau cáp đều dựa trên phương pháp phan tử hữu han và có thể chia thành 2 phương pháp chính: Phương pháp phần tử hữu hạn và phương pháp phân tích. Trong phương pháp phan tử hữu han: Đa thức được sử dụng dé mô tả hình dang và chuyền vị của cáp.
Thanh thăng được sử dụng để mô hình hóa các loại cáp đã được các nhà nghiên cứu thông qua như Argyris and Scharpf 1972 [4], Gambhir and Batchelor 1979 [3]. Cap chung sử dụng độ cứng tương đương được xem xét boi Ernst 1965, đó là các phương trình lực cáp, trọng lượng ban thân của cáp, chiều dai phan tử, độ cứng dọc trục dé thé hiện độ cứng tương đương của cáp [13 — trang 2] Trong trường hop cáp có độ cong lớn, số lượng phan tử thanh để mô ta đúng yếu tố hình hoc của phan tử cáp, do đó giả thiết như vậy là không hiệu quả vì số bậc tự do tăng mạnh. Do giả định phan tử cáp gồm nhiều phan tử thanh thang nối lại có nhược điểm là sự gián đoạn độ dốc giả xuất hiện tại các nút mà không có tải trọng tập trung tác dụng dẫn đến vấn đẻ hội tụ. Thay vì sử dụng các phần tử thanh kết hợp với nội suy tuyến tinh ta có thé sử dụng ít nút hơn với đa thức bậc cao hơn cho hình dạng và chuyển ci của các phan tử.
Một phan tử được phát triển bởi Gambhir và Batchelor (1977) [Š]. Chuyển vị và bién dạng được xấp xi bởi đa thức bậc 3 và liên tục tại các nút cáp được thực hiện bang cách sử dung phan tử tiếp tuyến, các dịch chuyển thông thường, góc xoay và độ cong. Sử dụng các phan tử cong có thé tránh được các hàm bậc cao. Trong trường hợp cáp chùng có độ cong lớn thì cần một số lượng lớn phần tử dé mô tả đúng hình dạng của cáp, không xuất hiện các yếu tố độ dốc.
Phương pháp phân tích: Dựa vào các công thức phân tích dé điều khiến tác dụng của lực phân bố đều dọc theo chiều dai cáp. Liên kết giữa 2 phan tử thành một loại Tổng quan 9 nhất định chịu tải trọng phân bó đều đã được sử dụng trong thực tế, đó là các phần tử cáp chùng đàn hôi hình parabol. Trong phan tử parabol, tải trọng phân bố đều dọc theo sợi cáp, yếu tô hình học của cáp được tiếp cận bang đa thức bậc hai. Một số nhà nghiên cứu như Cohen va Perrin (1957) [6], Poskitt và Livesley (1963) [7], Mollmann (1970) [8] đã phát triển kỹ thuật phân tích kết cau cáp dựa trên cách tiếp cận này.
Sử dụng phần tử có dạng parabol là có thể chấp nhận được đối với cáp nhưng có thé bị lỗi do tôn tại sự khác biệt trong yếu tố hình học.