Chương 1. NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN Trong thời đại công nghệ hiện đại như ngày nay, việc con người tiếp cận thông tin được đến từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau và việc đọc một tác phẩm văn học cũng vậy. Chúng ta có thể đọc văn bản ấy ở sách, báo, tạp chí hoặc có thể đọc trên các trang mạng hay có thể nghe phát trực tiếp trên đài,… Dù là tiếp cận văn bản ở chiều thông tin nào đi chăng nữa thì yếu tố đầu tiên mà chúng ta tiếp xúc đó là: ai sẽ là người kể câu chuyện này và người kể câu chuyện ấy đi theo mạch cảm xúc nào, dẫn dắt nội dung câu chuyện ra sao? Đó là hai yếu tố đầu tiên và cũng là hai yếu tố quan trọng không thể thiếu khi người đọc tiếp cận tác phẩm văn học – người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật. Người kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần 1.
Khái lược về người kể chuyện Người kể chuyện cùng với điểm nhìn, thời gian trần thuật, không gian trần thuật, giọng điệu là cấu trúc trần thuật của tự sự. Người kể chuyện là nhân vật trung tâm của tự sự, là người kể lại câu chuyện cho người đọc nghe. Có người xưng “tôi” với tên tuổi, giới tính cụ thể, song cũng có người chỉ nghe thấy tiếng. Có truyện có một người kể, hoặc có nhiều người kể, cũng có trường hợp câu chuyện tự kể.
Người kể chuyện có thể là những người ở cõi trên (thiên đàng), có thể là người, loài vật hay đồ vật,… Ở đây người kể chuyện mang tính nhân hóa trong điểm nhìn và giọng điệu. Người kể chuyện, trừ nhân vật xưng “tôi” trong hồi ký, nhật ký, phần lớn đều là nhân vật hư cấu do tác giả tạo ra để kể chuyện trong truyện. Thuật ngữ “người kể chuyện” mang tính quy ước, vì đôi khi người kể chuyện được nhân cách hóa, hoặc xưng “tôi” hoặc là các nhân vật,… Theo N. Tamarchenco “Người kể chuyện là chủ thể lời nói và là người đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học… Người kể chuyện được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian, lẫn bình diện tu từ mà cụ thể nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa – xã hội và ngôn ngữ cụ thể để từ vị thế ấy nó mô tả các nhân vật khác”.
Do đó người kể 8 chuyện còn có cả góc nhìn của riêng mình thay vì có luôn cả tiếng nói và giọng điệu.Genette thì cho rằng: “Trong một truyện kể giản dị nhất, ai đó nói với tôi, kể cho tôi nghe một câu chuyện, thúc tôi hiểu nó như anh ta kể, và sự thúc giục này – do lòng tin hoặc sức ép tạo nên một thế giới trần thuật không thể chối cãi, vậy là tạo nên tư thế người kể chuyện”. Riêng nhà nghiên cứu người Mĩ, Jonathan Culler khẳng định: “Bất cứ trần thuật nào đều phải có người kể chuyện, bất kể người kể chuyện ấy có được xác định rõ hay không. Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là vấn đề về mối quan hệ hàm ẩn giữa người kể chuyện và câu chuyện mà anh ta kể ra”. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: người kể chuyện lại là “hình tượng ước lệ về trần thuật trong một tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phầm” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), 2007).
Vậy người kể chuyện luôn gắn liền với điểm nhìn và là chủ thể của điểm nhìn đó. Qua điểm nhìn của mình, người kể chuyện có thể miêu tả những gì bên ngoài mà mình chứng kiến, cũng có thể bày tỏ bộc lộ những gì xảy ra bên trong cá nhân mình (nội tâm, tâm trạng, diễn biến tâm lý) theo sự quy định của tác giả hàm ẩn. Chính vì sự thể hiện đa dạng và phong phú về điểm nhìn của người kể chuyện nên nó có thể ẩn mình trong ngôi thứ ba hoặc xuất hiện ở ngôi thứ nhất “tôi”, hay qua ngôi thứ hai “anh/chị”. Trước đây lí luận văn học theo truyền thống Nga phân biệt “người trần thuật” – povestvovatel, ngôi kể thứ ba và “người kể chuyện” – raskazhik, ngôi thứ nhất.
Đó chẳng qua là các hình thức tự sự khác nhau nên có thể gọi chung là người kể chuyện – narrateur. Thực tế trong giao tiếp, đóng vai trò là chủ thể của người nói chỉ có thể là ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai còn ngôi thứ ba thì không thể đóng vai trò chủ thể trực tiếp mà chỉ có thể ở vị trí người được nhắc đến, tức vắng mặt trong cuộc hội thoại. Tuy nhiên không thể loại bỏ đối tượng này trong hội thoại. Nhà ngữ học Pháp Benveniste phát hiện ra tính chất giả này của ngôi thứ ba nên gọi là “ngôi không ngôi”, “ngôi giả”.
Còn nhà tự sự học Pháp G. Genette thì bác bỏ việc sử dụng “ngôi” trong lí thuyết tự sự. Ông khẳng định: “Bất kể truyện kể nào đều ở ngôi thứ nhất, bởi vì người kể chuyện của nó lúc nào cũng có thể tự chỉ định bằng đại từ ngôi thứ nhất”. Thực ra chỉ khác ở chỗ nó ẩn mình chứ không thể nào vắng mặt được và ông thay thế bằng thuật ngữ tự sự homo – tự sự đồng sự và hétérodiégétique – tự sự dị sự.
Theo ông nó phản ánh đúng thực chất mối quan hệ giữa người kể chuyện và câu chuyện được kể. Ngoài ra còn có mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả, nếu trong Diễn ngôn tự sự G. Genette cho là đối với tiểu thuyết, người kể chuyện có năm chức năng: chức năng kể; chức năng chỉ huy tự sự (điểm bắt đầu và điểm kết 9 thúc,…); chức năng bình luận, đánh giá; chức năng truyền đạt, thực hiện giao tiếp với người đọc; chức năng chứng kiến, chứng thực nhằm tạo sự thuyết phục. Genette cho rằng người kể chuyện có tất cả các chức năng của tác giả.
Khác với quan điểm của G. Genette, Triệu Nghị Hành lại cho rằng: người kể miệng là người thật (trong phương thức truyền miệng dân gian), tác giả truyện lại là người khác. Còn người kể chuyện trong văn bản chỉ là “sinh thể bằng giấy” với điểm nhìn riêng, giọng điệu lời lẽ riêng, không phải là tác giả. Tác giả thật mới là người sáng tạo ra văn bản tự sự.
Người kể chuyện chỉ là người đóng thế tác giả hàm ẩn, với chức năng chứng kiến và truyền đạt. Lúc này khi sáng tác, tác giả phải nhìn theo điểm nhìn của nhân vật, phải nói theo giọng điệu, tính cách của người kể chuyện. Ngoài ra, trước khi sáng tác, nhà văn phải lựa chọn góc nhìn, giọng điệu thì mới có thể chọn người kể chuyện cho thích hợp. Tác giả có thể lựa chọn người kể chuyện chứ không thể thay thế được người kể chuyện.
Vậy người kể chuyện có chức năng gì? G. Genette cho rằng người kể chuyện có chức năng của tác giả (như đã nêu ở trên) còn Tz. Todorov lại khẳng định: “Người kể chuyện là một yếu tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu… Chính người kể chuyện là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá… Chính nó lựa chọn lối nói gián tiếp hay lối nói trực tiếp, sự kế tiếp tuần tự của việc trình bày hay sự hoán vị thời gian. Không có người kể chuyện thì không có truyện kể”.
Nhà nghiên cứu Thụy Sĩ, bà M. Ryan cho rằng: “Sự có mặt của người trần thuật là điều nhất thiết phải có trong bất cứ văn bản nào”. Nói tóm lại chức năng người kể chuyện thể hiện sự tương tác của các chủ thể trong tự sự. Tóm lại, người kể chuyện không tách rời với tác giả nhưng cũng không được đồng nhất họ, như R.
Barthes đã nói: “không thể đồng nhất người thật, người viết với người kể trong truyện” (Trần Đình Sử, 2018). Robbe-Grillet từng nói: “Tôi chưa từng nói điều gì khác ngoài bản thân tôi”, hay M. Duras viết: “Điều làm tôi xúc động, đó chính là bản thân tôi”, còn Nguyễn Khải từng nói: “Tôi chỉ quan tâm và chỉ viết được những gì động chạm tới tiểu sử của tôi, những chiêm nghiệm của tôi, những cái yêu cái ghét và khát vọng của riêng tôi”. Nhưng không vì vậy mà ta phủ nhận hoàn toàn những dấu ấn trong đời sống của tác giả được khắc họa trong tác phẩm của chính mình.
Biểu hiện của người kể chuyện trong chuyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần Nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần chủ yếu là những cậu bé sống ở nông thôn với điều kiện kinh tế còn khó khăn như chính anh đã tự nhận :“Bản thân tôi sinh ra trong sự nghèo khó và có lẽ "cái tinh thần" 10 ấy không buông tha tôi trong từng suy nghĩ. Nhưng tôi có mô tả cái nghèo nào đâu. Những nhân vật của tôi luôn giàu. Tinh thần thì ai cũng giàu cả, tôi tin vậy.
Khi một đứa trẻ ra đời, nó đã là một kẻ giàu có về tinh thần rồi”. Đó là cậu bé Trí Dũng có bố mẹ làm nông nhưng cuộc sống của cậu rất hạnh phúc. Cậu có một ông bố rất yêu thương và rất hiểu tâm lý con trai. Qua bố của mình, Dũng mới thật sự biết được mẹ mình đã trải qua đau đớn ra sao trong chín tháng mười ngày cưu mang cậu trong bụng và để sinh cậu ra được trên đời không phải là một việc dễ dàng.
Bố là người giải đáp mọi thắc mắc và cũng là người nuôi lớn tâm hồn trẻ thơ của cậu bé bằng những câu chuyện cổ tích, bằng thế giới khu vườn tuyệt diệu và nhất là tình yêu thương vô bờ bến không điều kiện mà bố mẹ đã dành cho Dũng. Bố mẹ là người dạy cho Dũng những bài học quý giá trong cuộc sống về cách đối nhân xử thế không phải bằng những lời rao giảng lý thuyết mà bằng chính cách cư xử của họ trong cuộc đời thực với những con người thực. Đó là sự quan tâm giúp đỡ nhau giữa những người láng giềng: với chú Hùng trong ngày cưới, với cô Hồng lúc sinh non, với thằng Tí lúc bị đuối nước và bị rắn cắn, với cậu bé con cháu ông lão ăn xin ngoài chợ, với các bà ma xơ,… Bằng chính hành động cụ thể, đơn giản và tình cảm chân thật của mình nhưng bố mẹ đã cho Dũng những bài học vô cùng thực tế và rất quý báu về tình người.