CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong là một ngân hàng non trẻ trong hệ thống nhưng lại có sự phát triển vượt bậc trong thời gian gần đây. TPBank ra đời năm 2008 với mục tiêu trở thành ngân hàng phát triển vì lợi ích và sự tiện lợi của khách hàng. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2012 đã tác động tới nền kinh tế toàn cầu nói chung và hệ thống tài chính Việt Nam nói riêng.
Thời điểm đó, rất nhiều các ngân hàng rơi vào tình trạng hoạt động kém, phải chịu sự giám sát đặc biệt tới từ ngân hàng Nhà nước, trong đó có Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Với việc mạnh dạn đề xuất phương án tái cấu trúc lên Ngân hàng Nhà nước, Tiên Phong đã trở thành một trong số ít các ngân hàng có đề án được chấp thuận và triển khai. Ngay sau khi nhận được chấp thuận, chỉ trong một thời gian ngắn, TPBank đã phát triển mạnh mẽ, bù đắp được lỗ lũy kế và bắt đầu sinh lãi. Trong giai đoạn sau tái cơ cấu từ 2014 tới 2018, Tiên Phong luôn đem tới sự thu hút cũng như là điểm sáng trong hệ thống NHTM với việc liên tục đạt được lợi nhuận sau thuế tốt, có được hệ thống Ngân hàng điện tử sáng tạo nhất Việt Nam trong 3 năm liền (2015-2017) và cũng xuất sắc hoàn thành quy chuẩn vốn theo Basel II.
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của NHTM Cổ phần Tiên Phong đưa ra một bức tranh rõ ràng hơn về sự thay đổi cũng như phát triển của ngân hàng từ một đơn vị mất tính thanh khoản cục bộ trở thành một ngân hàng đi đầu trong phát triển công nghệ thanh toán và ngân hàng điện tử trong nước. Bài nghiên cứu sẽ tập trung tìm hiểu tác động của các yếu tố lên lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong. Vấn đề nghiên cứu của đề tài Khóa luận: "Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong trong giai đoạn 2014-2018" tập trung đặt ra 2 câu hỏi chính sẽ được làm rõ xuyên suốt nội dung của bài, đó là: 5 Lợi nhuận của Ngân Hàng TP Bank trong giai đoạn từ năm đầu năm 2014 đến cuối năm 2018 đã chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố cụ thể nào đến từ bên trong nội bộ và bên ngoài của nền kinh tế? Cần có giải pháp gì để gia tăng quy mô lợi nhuận của Ngân Hàng TP Bank trong định hướng 4 năm sắp tới dựa trên các tác động từ các yếu tố trong và ngoài ngân hàng thời điểm hiện tại và trong tương lai? 1. Cơ sở lý thuyết của đề tài Ngân hàng thương mại đã tồn tại và phát triển như một tất yếu cho sự phát triển thần tốc của nền kinh tế các năm gần đây.
Không chỉ là trung gian trong thanh toán giữa các giao dịch, NHTM còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi trong hệ thống tài chính như tiền gửi tiết kiệm của nhân dân, của tổ chức tới các nơi trọng điểm cần vốn đầu tư lớn như các dự án bất động sản, các nhà máy sản xuất công nghiệp,. Vì vậy, có thể coi NHTM là một doanh nghiệp với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tối ưu. Do là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh mặt hàng đặc biệt là tiền tệ nên NHTM cũng có những nghiệp vụ kinh doanh khác so với các doanh nghiệp sản suất kinh doanh khác. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, các loại hình kinh doanh chủ yếu mà NHTM được cung cấp bao gồm huy động vốn, sử dụng vốn cho vay và các hoạt động trung gian thanh toán, bảo lãnh khác.TS Nguyễn Văn Tiến trong giáo trình Quản trị ngân hàng, khả năng sinh lời của NHTM được đánh giá bằng hiệu quả nguồn thu bằng tiền thông qua các việc nhận được chênh lệch giữa việc huy động vốn và cho vay vốn cùng các hoạt động trung gian thanh toán giữa các giao dịch trong kinh tế.
Lợi nhuận của NHTM được tính bằng cách lấy doanh thu từ các hoạt động tài chính loại đi các chi phí phát sinh trong kỳ kế toán. Nhìn chung, khả năng sinh lời cần ít nhất đủ để đáp ứng hai mục tiêu được đưa ra như sau: Đảm bảo duy trì vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Trả được các khoản chi phí tài chính theo hợp đồng. Khi nghiên cứu về khả năng sinh lời của NHTM, toàn bộ hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua các kênh kinh doanh cần được đánh giá một cách chính xác.
Từ đó làm rõ chất lượng các kênh thanh toán và các nguồn tiềm năng cần khái thác và đưa 6 ra các phương án, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho toàn hàng. Cụ thể, bài luận sẽ đi sâu về phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới: Doanh thu: Doanh thu của ngân hàng khoản thu nhập nhận được từ hoạt động kinh doanh như cho vay tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán, dịch vụ đầu tư và các nguồn thu từ hoạt động tài chính khác. Đối với các NHTM tại Việt Nam, doanh thu hiện tại đang tập chung tại các khoản cho vay tin dụng với dư nợ chiếm 50% tổng tài sản có và bằng 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên, xu thế đang thay đổi dần với việc nâng cao nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ quan trọng nhằm đảm bảo sự ổn định trong phát triển lợi nhuận cũng như giảm thiểu rủi ro tới từ việc cho vay tín dụng trong thời gian dài.
Lợi nhuận: Là khoản thu nhập sau khi đã loại bỏ các chi phí trong quá trình hoạt động của doanh thu. Các chi phí có thể kể tới ở đây như là chi phí trả lãi cho các khoản tiền gửi, chi phí cho hoạt động của khối vận hành của ngân hàng, chi phí dự phòng rủi ro lãi vay. Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của NHTM chính là việc tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố tới chi phí và doanh thu của các khoản thu nhập tới từ từng mảng kinh doanh của NHTM, qua đó xác định được xu hướng cũng như những quyết định mang tính điều hành nhằm mở rộng tối đa lợi nhuận của NHTM. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời NHTM: Theo giáo trình quản trị ngân hàng (GS.TS Nguyễn Văn Tiến), một số chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của NHTM có thể kể tới như sau: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) Tỷ số ROE được tính bằng cách lấy lãi ròng sau thuế chia cho tổng giá trị của vốn chủ sở hữu trên bảng kế toán của báo cáo tài chính: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐸 = × 100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 7 Theo lý thuyết, sự gia tăng của chỉ số ROE thể hiện cho việc kinh doanh hiệu quả của công ty với mức thu nhập trên tổng vốn đầu tư được tăng lên.
Chính vì vậy, các cổ phiếu có ROE cao thường được các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn. Lợi nhuận trên tài sản (Return on Asset - ROA) Tỷ số ROA là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp, được tính bằng cách lới lợi nhuận ròng chi cho bình quân tài sản trong kỳ kế toán: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = × 100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 ROA là chỉ số phản ánh năng lực quản trị của ngân hàng trong việc đưa tài sản thành lợi nhuận ròng. Nếu ROA thấp sẽ phản ánh chính sách đầu tư kém hiệu quả hoặc do chi phí hoạt động của ngân hàng quá cao và ngược lại. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest Margin - NIM) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ừ 𝑙ã𝑖 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑁𝐼𝑀 = × 100 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó 𝑠𝑖𝑛ℎ 𝑙ã𝑖 𝑡𝑟𝑢𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng phải có các khoản tài sản để đưa vào hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, người ta phân loại tài sản thành các dạng: Tài sản Có sinh lãi (như các khoản cho vay, các khoản đầu tư tài chính .), Tài sản Nợ (huy động khách hàng, vay từ các ngân hàng khác .) và tài sản thông thường (các máy móc văn phòng, thiết bị. Thu nhập sản sinh ta từ các khoản Tài sản Có sinh lãi được hạch toán dưới dạng khoản mục Thu nhập lãi thuần (và các khoản tương tự). Để đo lường hiệu quả tạo lợi nhuận của các Tài sản Có sinh lãi của NHTM, người ta sử dụng tỷ lệ NIM như trên. Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu tốt cho thấy ngân hàng đang hoạt động tốt trong việc quả lý tài sản và nợ.
Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc mở rộng lợi nhuận. Khái quát các kết quả nghiên cứu trước Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng thương mại, tuy nhiên, các bằng chứng thực nhiệm lại không đồng nhất về các yếu 8 tố ảnh hưởng tới lợi nhuận cũng như chiều hướng tác động của các yếu tố này lên lợi nhuận của NHTM. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều các học giả nghiên cứu về vấn đề lợi nhuận trong các NHTM cổ phần thông qua việc áp dụng và phát triển các quan điểm về lý thuyết kinh tế, từ đó chứng minh những khía cạnh cơ bản tác động tới lợi nhuận của NHTM. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các yếu tố này được phân thành hai loại chính bao gồm các đặc điểm đặc trưng nội tại của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động.
Một số nghiên cứu liên quan tới quy mô ngân hàng có thể được kể đến như Pasiouras & Kosmidou (2007) đã nêu lên mối tương quan dương đối với quy mô ngân hàng và khả năng sinh lời; nghiên cứu về cơ cấu bảng kế toán của Athanasoglou cùng nhóm nghiên cứu (2008); tình trạng vốn chủ sở hữu trong lợi nhuận của Micco cùng các cộng sự (2007). Các nghiên cứu về yếu tố vĩ mô bao gồm có GDP và tỉ lệ lạm phát trong bài nghiên cứu của Tanna cùng nhóm nghiên cứu (2005); Sastrosuwito and Suzuki (2012), tuy nhiên, kết quả của các tác giả lại không khớp trong việc khai thác ảnh hưởng của hai yếu tố kinh tế vĩ mô tới lợi nhuận của NHTM. Nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, số lượng các bài nghiên cứu về chủ đề trên là không nhiều.