CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG 1. Tổng quan về tín dụng, rủi ro tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Theo Lê Văn Tề [16], tín dụng (Credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh – Credittum- tức là sự tin tưởng, tín nhiệm hoặc là sự tin tưởng hoặc tín nhiệm đó, hoặc vay mượn sự tin tưởng hoặc tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian. Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết trả với một lượng giá trị lớn hơn theo thời hạn đã thoả thuận.
Tín dụng là sự vận động đơn phương của giá trị từ người cho vay sang người đi vay và sẽ quay về với người cho vay cả vốn và lãi trong một kỳ hạn xác định nào đó. Đặc điểm của tín dụng thể hiện: Khoản vay sẽ quay về với người cho vay; Khoản vay sẽ được trả cho một người hưởng thụ nào đó được người cho vay chỉ định; Giá trị cho vay thể hiện dưới nhiều hình thức như tiền, vật chất (tín dụng thương mại), tài sản (tín dụng thuê mua); Tín dụng là sự vay mượn uy tín của người khác dưới hình thức bảo lãnh, thường được coi là tín dụng bằng chữ kí. Nguyễn Đăng Dờn (2009)[7] cũng cho rằng: (1) Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền, tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. (2) Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được hoàn trả.
(3) Giá trị tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Các tổ chức tín dụng Theo Luật các Tổ chức tín dụng [2], điều 20 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ ngân hàng với nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền giử để cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán”. Tín dụng ngân hàng: Theo Lê Thị Mận (2010)[14], nêu khái niệm tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng của ngân hàng thương mại. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác) trong đó bên cho vay ứng trước vốn bằng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Khi đề cập đến khái niệm tín dụng ngân hàng, Nguyễn Đăng Dờn (2009)[6] cũng cho rằng, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng trên.2 Phân loại tín dụng Theo Lê Văn Tề (2009) [16] , trong nền kinh tế xã hội, nếu căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng thì phân ra làm các hình thức tín dụng như: (1) Tín dụng thương mại, là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp, được thể hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa; (2) Tín dụng Ngân Hàng, là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân; (3) Tín dụng nhà nước, là quan hệ tín dụng trong đó Nhà nước biểu hiện là người đi vay. Nếu phân theo thời hạn tín dụng thì có ba loại: (1) Tín dụng ngắn hạn, là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân; (2) Tín dụng dài hạn, là tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng để cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở hạ tầng (đường, cảng…), mở rộng quy mô sản xuất; (3) Tín dụng trung hạn, là loại tín dụng ở giữa hai kỳ trên, được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. Phân theo đối tượng tín dụng thì có (1) Tín dụng vốn lưu động, là loại tín dụng cấp vốn để hình thành vốn lưu động như dự trữ hàng, mua nguyên nhiên vật liệu…; (2) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Tín dụng vốn cố định, là loại tín dụng cấp phát để hình thành tài sản cố định, đầu tư máy móc thiết bị… Ngoài ra, phân loại theo mục đích sử dụng vốn, thì có tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng. Nguyên tắc của tín dụng Với đặc thù kinh doanh tiền tệ ẩn chứa nhiều rủi ro, vì mọi rủi ro của khách hàng bất luận lý do gì đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Để giảm thiểu rủi ro các ngân hàng thường chủ động phân loại và lựa chọn khách hàng tốt nhất, hoạt động có hiệu quả, bảo đảm khả năng sinh lợi cho đơn vị và ngân hàng. Sự lựa chọn này dựa trên nguyên tắc tín dụng, được Ngân hàng nhà nước quy định [4], cụ thể là: (1) Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định, theo nguyên tắc này ngân hàng, tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế xây dựng kế hoạch kinh doanh, dòng tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Với nguồn gốc vốn huy động từ khoản tiền gửi của khách hàng nên Ngân hàng phải trả gốc và lãi theo cam kết. Do vậy, các khoản vốn cho vay cũng thực hiện theo nguyên tắc này.
(2) Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận với ngân hàng, những thỏa thuận không trái với quy định hiện hành của luật pháp và các quy định hiện hành của ngành, theo nguyên tắc đồng thuận. Thực hiện nguyên tắc này ngân hàng sẽ quản lý khách hàng của mình sử dụng vốn đúng với mục đích, yêu cầu, nội dung, quy mô, tiến độ thực hiện dự án đã được thẩm định có hiệu quả. Nếu khách hàng không sử dụng đúng mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng, thì rủi ro lớn ảnh hưởng đến khoản vốn vay, vì vậy cam kết sử dụng đúng mục đích điều này giúp cho ngân hàng quản lý vốn một cách hiệu quả. Điều kiện bảo đảm tín dụng Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước[4], các tổ chức tín dụng xem xét cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện cần thiết, như sau: (1) Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; (2) Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; (3) Có khả năng tài chính đảm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có vốn tự có đối ứng thực hiện; (4) Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu qủa; (5) Thực hiện quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Vai trò của tín dụng Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, tín dụng có vai trò như: (1) Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất, kinh doanh được liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế; (2) Thúc đẩy nền kinh tế phát triển; (3) Là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn; (4) Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp; (5) Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài. [16] Bên cạnh những vai trò tích cực của tín dụng nêu trên, Nguyễn Đăng Dờn (2009)[7] còn nhấn mạnh thêm tác dụng của tín dụng trong việc góp phần ổn định tiền tệ, giá cả trong nền kinh tế, thông qua chức năng của mình giảm khối lượng tiền trong lưu thông, cung ứng tiền từ nơi thừa qua nơi thiếu. góp phần ổn định đời sống, tạo việc làm và ổn định trật thự xã hội nhờ việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, cung cấp hàng hóa phục vụ tốt cho người dân, khai thác mọi tiềm năng sẵn có về tài nguyên, lao động để sản xuất …thu hút và tạo việc làm cho xã hội. Rủi ro tín dụng “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
(Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 / 04 / 2005 của thống đốc NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của TCTD) Từ khái niệm trên, các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng bao gồm: Rủi ro tín dụng khi người vay không trả đúng hạn nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn vay hoặc lãi. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NH. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Rủi ro là một yếu tố không thể loại trừ hoàn toàn được, nó mang tính khách quan, chúng ta cố gắng hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.
Mức độ rủi ro cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NH. Thị trường tín dụng - Theo Hoff và Stiglitz (1996)[25], các đặc điểm của thị trường tín dụng: Thứ nhất, trong thị trường tín dụng có thông tin đầy đủ người cho vay xác định một lãi suất cao để họ có thể tối đa hoá lợi nhuận. Điều này tạo ra một tâm lý có một mức độ độc quyền kinh doanh tiền tệ, do người vay phải chịu một mức phí giao dịch cao.