CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VÀ SỰ PHỨC TẠP CẤU TRÚC CỦA NHTM Các vấn đề về cấu trúc của doanh nghiệp 1. Cấu trúc của doanh nghiệp Cấu trúc là mối quan hệ giữa các thành phần của một tổng thể có tổ chức. Vì vậy, khái niệm cấu trúc có thể được sử dụng cho mọi thứ.
Ví dụ, một tòa nhà là một cấu trúc có mối quan hệ giữa móng, khung, trần và tường. Cơ thể con người là một cấu trúc bao gồm các mối quan hệ giữa xương, nội tạng, máu và mô (Johatch, 2014) Trong một doanh nghiệp cấu trúc được hiểu là khuôn khổ của các mối quan hệ bao gồm công việc, hệ thống, quy trình vận hành, con người và sự phối hợp giữa các yếu tố trên để đạt được mục tiêu, là tập hợp các phương pháp phân chia nhiệm vụ, công việc chung thành các nhiệm vụ được xác định và điều phối chúng (Monavarian.& Ashena, 2007) Cấu trúc của tổ chức là hệ thống các bộ phận của tổ chức dựa trên mối quan hệ về nhiệm vụ và quyền hạn, có liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo nên một quy trình cụ thể để kiểm soát cách mọi người phối hợp hành động và sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Mục đích chính là để kiểm soát cách các thành viên của tổ chức phối hợp hành động để đạt được các mục tiêu của tổ chức và kiểm soát các phương tiện được sử dụng để thúc đẩy mọi người đạt được những mục tiêu này (Jones, 2013) Trong một tổ chức sẽ có các bộ phận riêng lẻ thực hiện các chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng hướng đến mục đích là đạt được mục tiêu chung đã xác định của tổ chức. Mỗi thành viên trong tổ chức đều có vai trò xác định và đều phải nỗ lực đóng góp nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu.
Do đó nhờ vào cơ cấu tổ chức mà nhà quản trị sẽ đưa ra một quy trình hoạt động cụ thể từ đó sẽ có sự phân công lao động cho mỗi thành viên theo đúng vị trí chuyên môn. Các thành viên trong tổ chức được phát huy đúng sở trường sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổ chức. 5 Tuy nhiên, mỗi tổ chức cũng cần có sự thống nhất về “quyền lãnh đạo”, đây là một trong các yếu tố tiên quyết để thiết lập trật tự của tổ chức đồng thời cũng là động lực nhằm thúc đẩy các thành viên trong tổ chức cố gắng, nỗ lực, tăng tính trách nhiệm trong công việc. Trong thực tế tại một số các doanh nghiệp, việc phân chia nhiệm vụ và quyền hạn không rõ ràng dẫn đến hệ quả công việc bị chồng chéo, vượt cấp, quá tải công việc cho lãnh đạo, đùn đẩy, né tránh công việc.
Điều này khiến công việc bị trì trệ không đạt hiệu quả cao, làm nản lòng những cán bộ, nhân viên có năng lực, trách nhiệm và lòng tự trọng. Do vậy thiết kế cấu trúc trong tổ chức và phân công nhiệm vụ, ủy quyền trong phạm vi công việc nhất định là việc quan trọng hàng đầu đối với lãnh đạo và người làm tổ chức nhân sự. Phân loại cấu trúc của doanh nghiệp. Theo Derbali (2014), cấu trúc của tổ chức có 6 loại hình cơ bản: Cấu trúc phân quyền, Cấu trúc theo chức năng, Cấu trúc đa bộ phận, Cấu trúc dạng ma trận, Cấu trúc phẳng, Cấu trúc theo địa lý Cấu trúc phân quyền Đây là loại hình cấu trúc tổ chức đơn giản và lâu đời nhất, hoạt động theo cơ chế cấp cao nhất sẽ đưa ra chỉ thị, sau đó chỉ thị được truyền đạt đến cấp trung gian và cuối cùng là đến nhân viên.
Một đề xuất của nhân viên phải thông qua cấp trung gian trước khi đến cấp quản lý cao nhất. Mô hình này hạn chế sự giao tiếp thường xuyên giữa người chủ công ty và nhân viên nên mang tính quan liêu và phân biệt. Cấu trúc phân quyền có một số ưu điểm trong đó mỗi cấp đều có thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng. Vì vậy, mỗi cá nhân đều biết mình chịu trách nhiệm với ai, không chồng chéo trách nhiệm.
Thứ hai, nó cung cấp một lộ trình thăng tiến rõ ràng, vì vậy mà tập trung phát triển nhân viên dựa trên kỹ năng chuyên môn. Tuy nhiên nhược điểm của cấu trúc tổ chức này là gây mất nhiều thời gian để đưa ra quyết định, chỉ thị phải được xử lý và thông qua bởi các cấp độ lãnh đạo, tạo ra khoảng cách trong giao tiếp với cấp trên. Vì vậy, không thống nhất mục tiêu chung, thiếu sự phối hợp giữa các phòng ban. 6 Cấu trúc theo chức năng Là loại hình cấu trúc mà trong đó các bộ phận chức năng được chia nhỏ với các nhiệm vụ và vai trò cụ thể và chịu sự quản lý bởi một cơ quan cao nhất.
Cấu trúc này có đặc điểm là những bộ phận chức năng phải hiểu rõ chuyên môn và thành thạo nghiệp vụ trong phạm vi chức năng của mình. Cấu trúc tổ chức của các công ty thường được chia thành một số chức năng phổ biến như sản xuất, bán hàng, kế toán - tài chính, hành chính-nhân sự và nghiên cứu phát triển. Mỗi bộ phận đều giữ một quyền hạn thuộc về phạm vi chức năng của mình, vì vậy có thể nói quyền hạn mỗi bộ phận điều hành, mỗi nhân viên như một loại quyền lực thứ ba thuộc loại tổ chức này. Theo Jones (2013) khi các công việc trong tổ chức ngày càng nhiều và phức tạp hơn khi số lượng khách hàng tăng lên và doanh nghiệp cần đáp ứng nhiều đơn hàng hơn.
Lúc đầu, chủ sở hữu, có thể đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, nhưng khi công việc kinh doanh phát triển, họ trở nên quá tải và buộc phải phát triển các vai trò chuyên biệt và thiết lập sự phân công lao động. Việc phân công một người vào một vai trò là bước khởi đầu cho quá trình chuyên môn hóa và phân nhóm theo chiều ngang. Khi quá trình này tiếp tục, kết quả tạo ra cấu trúc theo chức năng, cấu trúc mà phân loại các cá nhân trong tổ chức vào các chức năng hoặc bộ phận riêng biệt vì họ chia sẻ các kỹ năng và kiến thức chuyên môn chung và họ cùng sử dụng chung các nguồn lực. Ưu điểm của cấu trúc này là nó cho phép chuyên môn hóa cao và có thể mở rộng quy mô khi tổ chức phát triển.
Trách nhiệm của nhân viên và các bộ phận được xác định rõ ràng, giúp cho việc xử lý công việc chính xác, hiệu quả. Tuy nhiên, nếu một tổ chức có nhiều bộ phận khác nhau hoặc có nhiều phân khúc thị trường hay sản phẩm thì sẽ gây ra rào cản trong phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, vì cấu trúc này đòi hỏi các bộ phận phải phụ thuộc lẫn nhau và có thể gây ra xung đột giữa những người quản lý cùng cấp. 7 Cấu trúc đa bộ phận Trong quá trình phát triển của tổ chức, cấu trúc theo chức năng được phát triển sẽ chuyển thành cấu trúc đa bộ phận như một công cụ nhằm giảm bớt trách nhiệm ra quyết định của người quản lý cấp cao. Cấu trúc đa bộ phận là một tập hợp gồm nhiều bộ phận có các chức năng riêng biệt, được phân chia theo các tiêu chí về loại sản phẩm dịch vụ hoặc theo khu vực địa lý.
Trong đó doanh nghiệp phân quyền đáng kể cho các bộ phận để mỗi bộ phận riêng biệt này có thể đáp ứng các yêu cầu cần thiết về chiến lược sản phẩm/thị trường, với các phòng ban chức năng riêng của chúng. Mỗi bộ phận có thể được tổ chức theo loại hình cấu trúc riêng phù hợp nhất, có thể là chức năng, ma trận, dự án, …. Cấu trúc dạng ma trận Là một cấu trúc tổng hợp mà cơ cấu quản lí theo chiều ngang được lồng ghép vào cơ cấu quản lí theo chiều dọc của tổ chức. Trong cấu trúc này thường có hai hệ thống chủ đạo, một hệ thống chi phối theo chức năng và một hệ thống theo dự án hay sản phẩm.
Cấu trúc ma trận tương đối phức tạp, tuy nhiên nếu áp dụng thành công nó có thể giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu suất. Điểm nổi trội của cấu trúc này là nó linh hoạt và mang tính cân bằng trong ra quyết định (vì có hai chuỗi lệnh thay vì chỉ một). Một cá nhân có thể được giám sát bởi cả nhà quản lý chức năng và nhà quản lý dự án đó. Mô hình ma trận có thể bù đắp các hạn chế của mô hình phân quyền truyền thống, ví dụ như: Nâng cao hiệu quả giao tiếp trong tổ chức.
Thông tin sẽ luôn được xuyên suốt: Luồng ngang cung cấp thông tin về hệ thống dự án giữa các đơn vị chức năng và luồng dọc cung cấp thông tin chi tiết về các cấp quản lý khác nhau. Thúc đẩy sự phối hợp giữa các phòng ban, nhờ vậy rút ngắn quá trình ra quyết định. Ngoài ra, còn tận dụng được nguồn lực giữa các phòng ban. Tuy nhiên, cấu trúc ma trận khá phức tạp và khó áp dụng.
Các cá nhân chịu sự chi phối của nhiều nhà quản lý. Dễ xảy ra xung đột lợi ích giữa quản lý dự án và 8 quản lý chức năng. Trong khi người quản lý chức năng coi trọng mặt kỹ thuật, thì nhà quản lý dự án đánh giá cao mặt chi phí và thời gian. Thêm vào đó, việc đánh giá hiệu quả làm việc của các cá nhân khó khăn vì họ làm việc đồng thời trên các dự án khác nhau Cấu trúc phẳng Tổ chức có cấu trúc phẳng thường không có chức danh công việc, mọi cá nhân trong tổ chức đều bình đẳng.
Các cá nhân được trao nhiều trách nhiệm và quyền ra quyết định hơn và không phải chịu sự giám sát của các cấp quản lý. Cấu trúc này thường được áp dụng bởi các tổ chức nhỏ, mới thành lập khi số lượng nhân viên ít và dễ quản lý. Cấu trúc tổ chức phẳng giúp nhà quản trị tiết kiệm chi phí vì nó ít cấp quản lý, đồng nghĩa công ty ít chịu chi phí tiền lương, phúc lợi… cho cấp quản lý. Thứ hai, nó làm tinh gọn bộ máy, loại bỏ những lớp quản lý dư thừa, tăng mức độ giao tiếp giữa các cá nhân.
Nhờ vậy, rút ngắn thời gian quyết định được phê duyệt. Quyết định không qua phê duyệt của cấp trung gian, độc lập trong ra quyết định dẫn đến quá trình ra quyết định nhanh hơn. Tuy nhiên, nguy cơ mất kiểm soát vì khi số lượng nhân viên quá lớn vì dễ mất kiểm soát tình hình.