Mở đầu Giới thiệu tong quan nghiên cứu, ly do hình thành dé tài, phạm vi áp dụng, quy trình và cách thức thực hiện, ý nghĩa cũng như các đóng góp của luận văn. Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết khoa học liên quan đến các vẫn đề được sử dụng trong luận văn. Đối tượng nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Khảo sát hiện trạng tô chức và xây dựng mô hình nghiên cứu. Phân tích dữ liệu dé xuất giải pháp văn hóa Phân tích và xây dựng hệ thống dựa trên những khảo sát của chương 3.
Đánh giá các biéu đồ xây dựng được Xác định kiêu văn hóa hiện tại trong tô chức. Đê xuât các biện pháp nhăm nâng cao chia sẻ tri thức trong tô chức. Kết luận và Kiến nghị Tông ket lại các vân dé đã nghiên cứu, những van đê chưa hoàn thiện và đề xuât các hướng nghiên cứu trong tương lai. CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ THUYÉT 2.
Di liệu- thông tin - tri thức Dữ liệu là một tập hợp các sự kiện, sự việc khách quan, rời rạc được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gan với bối cảnh. Dữ liệu trở thành thông tin khi nó được phân loại, phân tích, tong hợp va đặt vào một bối cảnh, và trở nên có thé nhận thức được đôi với người nhận. Thông tin là dữ liệu gan với một sự liên hệ hoặc một mục đích. Thông tin biến thành kiến thức khi nó được sử dụng để so sánh, đánh giá những kết cục, thiết lập những liên hệ và tiễn hành một sự đối thoại.
Thông tin là dữ liệu trong bối cảnh mà nó có thé sử dụng cho việc ra quyết định. Dữ liệu luôn được sắp xếp để tạo ra ý nghĩa cho người nhận, nó có thể là văn bàn, hình ảnh, film, hoặc một cuộc hội thoại với một người khác. Tri thức có thể được xem như thông tin mà nó đạt tới sự sáng tỏ, sự phán quyết, và những giá trị. Trong nhiều trường hợp, tri thức thể hiện sự thật và vì vậy nó cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động.
Tri thức là kho tang của sự hiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của con người (đặc biệt từ những người khác). Ra quyet định Hoach dinh các hành dong ra Tri thức Thong tin duoc ket hop voi kính nghiem va sự phan quyet z er) , x ` ˆ Miéu biét các dạng mau, quy luật Thong tin Dit lieu được đặt trong boi cảnh a Hiéu biết các mỗi quan hệ Dữ lieu So liêu hoặc su kien Hình 2.1: Từ dữ liệu đến tri thức (Nguồn: Serban, A. Định nghĩa quản lý tri thức Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý tri thức, sau đây là một vài định nghĩa được nhiều người quan tâm: “Quản lý tri thức là tạo ra tri thức, và việc này được nối tiếp với việc thể hiện kiến thức, truyền bá và sử dụng kiến thức, và sự duy trì (lưu giữ, bảo tôn) và cải biến kiến thức” (De Jarnett, 1996). “Quản lý tri thức là quá trình của việc quản lý một cách can trọng tri thức dé đáp ứng các nhu cầu hiện hữu, để nhận ra và khai thác những tai sản tri thức hiện có và có thé đạt được và dé phát triển những cơ hội mới” (Quintas et al, 1997) “Quản lý tri thức là hoạt động mà hoạt động này quan tâm tới chiến lược và chiến thuật để quản lý những tài sản trọng tâm là con người (human center assets)” (Brooking, 1997).
“Quản lý tri thức là quá trình có hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận, và chuyển tải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh, và hoàn thiện” (Trung tâm Năng suất và Chất lượng Hoa Kỳ - Trích dẫn bởi Serban và Luan). Trên cơ sở tổng kết các định nghĩa khác nhau về quản lý tri thức, McAdam và McGreedy (1999) đã chỉ ra rang các định nghĩa về quản lý tri thức thể hiện một miền rộng lớn từ những quan điểm có tính cơ giới (coi tri thức là tài sản) tới quan điểm thiên về định hướng xã hội (tri thức được tạo ra trong tô chức thông qua những quan hệ xã hội). Các định nghĩa về quan lý tri thức thé hiện nồi bật các đặc tính sau: Y Quản lý tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và thực tiễn, và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực. Y Quản lý tri thức không phải là công nghệ thông tin, những tiến bộ trong công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc này tốt hơn mà thôi.
* Những van dé của con người và học tập là điểm trung tâm của quản lý tri thức. Tri thức an và tri thức hiện 2. Tri thức ẩn -tacit Thuật ngữ tacit bắt nguồn từ“tacitus”trong tiếng latin có nghĩa là làm một việc gi đó dưới sự im lặng. Tri thức ân(“tacit knowing” or “tacit knowledge”) được biết đến lần đầu trong tác phẩm “Personal Knowledge” của Michael Polanyi vào năm 1958.
Người noi tiếng với câu “we can know more than we can tell.” Mà theo ông thì ngoài những tri thức được hiểu rõ ràng dưới các dạng văn bản, hình ảnh thì còn ton tại một dạng tri thức khác gọi là tri thức ấn. Với tri thức ân mọi người không nhận thức được tri thức mà họ đang sở hữu và làm thé nào nó có giá trị với người khác. Hiệu quả của việc chuyển giao tri thức ấn đòi hỏi phải mở rộng tiếp xúc cá nhân, tương tác thường xuyên, tin tưởng. Loại tri thức này chỉ được thé hiện thông qua thực hành trong một bối cảnh cụ thể và được truyền tải thông qua các mạng xã hội.
Trong một chừng mực nào đó nó “bắt” người chủ tri thức phải tham gia một mạng hay một cộng đồng thực hành. Một vài ví dụ về tri thức ân là khả năng điêu khiên một chiéc xe đạp, kha năng chơi guitar, đóng đỉnh với một chiếc búa. VỀ hình thức, mọi người đều biết rằng điều khiển một chiếc xe đạp chủ yếu dựa vào việc giữ thăng bằng. Khi muốn cua qua phải hay cua trái, ta sẽ phải điều khiến tay lái.
Có lẽ ai cũng biết rõ ràng điều nay, nhưng một người chưa biết đi xe đạp lần nào thì không thé nào tập trung làm nhiều động tác vừa đạp vừa điều khiến, lại vừa quan sát giao thông cùng một lúc ngay tức thời được Tương tự như khi ban dùng búa đóng một cây định, bạn biết rõ việc cầm cây búa và đập xuống như thế nào, nhưng bạn không thể phối hợp cùng lúc giữa việc cầm cây đinh và dùng búa đập vào. Một nghệ sĩ guitar không thé nao đánh một bản nhạc hay nếu anh ta cứ tập trung vào việc điều khiến sự duy chuyển các ngón tay thay cho tập trung vào âm nhạc. Như vậy ta các trường hợp chúng ta đều biết trên chúng ta đều biết phải làm như thế nào, nhưng hiệu suất đạt được là khác nhau. Tri thức an không dê dang đê chia sẻ.
Nó chứa niêm tin, quan niệm, giá tri, sự mô hình và hình thức tư duy, những cái năm sâu bên trong môi chúng ta và được chúng ta mặc định cho là như vậy. Nó khó đê làm cho rõ ràng. Nó tạo nên cách mà môi chúng ta nhận thức về các sự việc trên thê giới. Trong lĩnh vực quản lý tri thức, tri thức an được hiểu như là tri thức trong mỗi cá nhân và khó để tiếp xúc thông qua từ ngữ hay các biểu tượng hình ảnh.
Vì vậy một người nao đó có thé nhận được tri thức ân mà không thông qua ngôn ngữ. Ví dụ như một người học nghề làm việc với thầy của mình để học được sự khéo léo không bằng ngôn ngữ mà qua sự quan sát, băt chước và thực hành. Chia khóa cho việc đạt được tri thức 4n là kinh nghiệm. Nếu không có một hình thức chia sẻ kinh nghiệm, nó thật sự khó để chia sẻ quá trình suy nghĩ của mỗi người cho nhau.
Tri thức ân được mô tả như là “bí quyết (know- how) nó đối lập với “biết cái gi’(know-what), “biết tại sao”(know- why). Nó chứa đựng sự hiểu biết, các kỹ năng nhưng không phải là những cái có thé ghi chép lai. Tóm lại, tri thức ân chính là những hiểu biết nam trong đầu của mỗi cá nhân. Và các tri thức ấn này không thể được thé hiện ra dưới các dang văn bản thông thường.
Vi vậy việc truyền đạt các tri thức này cần phải có những cuộc tiếp xúc giữa người truyền tri thức và người nhận tri thức trong một bối cảnh cụ thé. Việc “cho - nhận” này phải thông qua sự tin tưởng lẫn nhau giữa hai bên. Tri thức hiện - explicit Expilcit có nguôn gôc từ tiéng latin “explicare” có nghĩa là có khả năng diễn tả, nhìn thay được. Tri thức hiện là loại tri thức được mồ hình hóa và hệ thống hóa.
Tri thức dạng nay có thể được lưu trữ, mã hóa dưới các dạng văn bản, tài liệu âm thanh phim ảnh. Và nó dê dàng được chia sẻ giữa mọi người với nhau. Ví dụ như các giáo trình môn học, các bài báo, tạp chí. Quan hệ giữa tri thức ẩn và tri thức biện Tri thức An và tri thức hiện mặc dù có thé định nghĩa khác nhau, nhưng chúng thì không riêng lẽ và tách rời trong thực tế.
Sự tương tác qua lại giữa hai loại tri thức này sẽ là tiên đê đề tạo ra các tri thức mới Tri thức an và hiện có thê phân biệt dựa vào ba yêu tô chính là: Bang 2.1: So sánh tri thức ân và hiện (Nguồn: Kimiz Dalkir 2005) Tri thức hiện Tri thức an Mww Hệ thông hóa, mã hóa dễ dàng chia Không rõ ràng, không thê truyện đạt, | sẻ, chuyển giao tri thức mà không hiệu và sử dụng ma không có “know| cần một “know subject” subject”, chuyên giao đòi hỏi sự tương tác chặc chẻ và sự tin cậy „. " Được tạo ra thông qua sự suy luận có Có được thông qua kinh nghiệm thực | logic và thông qua kinh nghiệm thực nành trong boi cảnh liên quan hành trong bôi cảnh liên quan Có thê được tập hợp tại một chỗ Không dễ dàng tập hợp lại Quá trình chuyền đổi tri thức an thành tri thức hiện thông qua hệ thông hóa. Như là một kho dữ liệu hỗ trợ ra quyết định dựa vào các kinh nghiệm di trước. Mạng xã hội và phân tích mạng xã hoi(Social network analysis-SNA) 2.
Mang xã hoi Mot mang xa hdi la mot cau trúc xã hội tạo thành một tập hợp các thành phân (chăng hạn như các cá nhân, tô chức ) và các mối quan hệ cặp đôi giữa các thành phan với nhau.