CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH KINH TẾ HOÁ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 1. Tổng quan về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường 1. Khái niệm, bản chất của kinh tế hoá tài nguyên và môi trường Để hiểu rõ nội hàm của thuật ngữ “kinh tế hóa tài nguyên môi trường” hay “kinh tế hóa trong lĩnh vực/ngành tài nguyên và môi trường”, trước hết cần hiểu rõ bản chất của từ “hóa”. Theo quan niệm và lý luận chung, ta dùng chữ "hóa" là muốn nói đến sự chuyển hóa từ cái này sang cái kia.
Thuật ngữ "kinh tế hoá" tài nguyên và môi trường có nội hàm khá rộng và phong phú, một số đánh giá cho rằng nội dung cốt lõi của kinh tế hóa tài nguyên và môi trường bao gồm các khía cạnh như: - Đó là quá trình chuyển hoá các thành tố tài nguyên và môi trường từ trạng thái là tài nguyên thiên nhiên trở thành tài sản quốc dân; - Là quá trình chuyển hoá các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được tài sản hoá thành hàng hoá cung cấp cho thị trường và trở thành nguồn vốn quan trọng của các thành phần kinh tề sở hữu chúng, nhờ đó mà vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng gia tăng; - Là quá trình tạo lập và nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua việc đánh giá đúng giá trị và đưa các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu nhà nước vào lưu thông theo đúng nguyên tắc và quy luật của nền kinh tế thị trường; - Đi đôi với các quá trình kinh tế hóa là quá trình chuyển hoá các quan hệ hành chính trong quản lý nhà nước sang quan hệ kinh tế thị trường, trong đó các cơ quan nhà nước - đại diện cho chủ sở hữu và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên là các bên bình đẳng trong các hợp đồng kinh tế. Các nhà kinh tế môi trường cũng coi thuật ngữ “kinh tế hoá” tài nguyên và môi trường theo các khía cạnh cụ thể hơn như sau: 4 Bùi Quang Điệp Cao học QTKD 2010-2012 - Đó là, tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế để phân bố hợp lý, khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng cường trách nhiệm xã hội trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, và để tăng thu cho ngân sách quốc gia; - Là nhận diện và tăng đóng góp của ngành tài nguyên và môi trường, với vai trò là một ngành kinh tế, vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; - Là sử dụng các công cụ lượng giá để đánh giá một cách định lượng giá trị tài nguyên và môi trường cũng như các thiệt hại về tài nguyên và môi trường do các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra; - Là quá trình hướng các đơn vị trong ngành tài nguyên và môi trường tới mục tiêu tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động của mình (tiết kiệm chi phí hoạt động, cải cách hành chính trong quản lý nhà nước, thương mại hoá số liệu và dịch vụ ngành). Như vậy, tuy chưa có những nhìn nhận và đánh giá cụ thể đồng nhất, nhưng tựu trung lại về bản chất, “kinh tế hoá trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường” là quá trình đẩy mạnh sử dụng cơ chế, công cụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, nguyên lý, quy luật của kinh tế thị trường nhằm bảo vệ, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và môi trường, nâng cao đóng góp từ tài nguyên và môi trường cho nền kinh tế quốc dân, đảm bảo tính công bằng, vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường 1.
Các quy luật khách quan của KTTT (1) Quy luật cung – cầu: Quy luật cung - cầu là quy luật quan trọng nhất qui định cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường. Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau. Quy mô của cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sức mua của đồng tiền, thị hiếu người tiêu dùng và giá cả. Cung là tổng số hàng hoá, dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau.
Quy mô cung thuộc vào các yêu tố như 5 Bùi Quang Điệp Cao học QTKD 2010-2012 số lượng, chất lượng các yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất; trong đó, cũng như cầu, giá cả có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau, cung - cầu còn tương tác với nhau để xác lập giá cả (tín hiệu quan trọng nhất hướng dẫn sự phân bổ nguồn lực trong xã hội (2) Quy luật giá trị Theo quan điểm của kinh tế học hiện đại thì giá trị của một hàng hóa do yếu tố cung và cầu trên thị trường quyết định. Một hàng hóa được gọi là có giá trị nếu nó hội đủ hai điều kiện, thứ nhất là mang lại một sự thỏa mãn cho những người sử dụng hàng hóa (có thể là nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng), thứ hai những người sử dụng phải sẵn sàng chi trả một phần thu nhập của mình để có được những giá trị đó. Như vậy, theo quan điểm hiện đại này thì một hàng hóa có giá trị khi được sử dụng để sản xuất hoặc để tiêu dùng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng nhất thiết phải có giá cả.
(3) Quy luật cạnh tranh Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Quy luật cạnh tranh không phát huy tác dụng một cách riêng rẽ mà theo quy luật giá trị và các quy luật kinh tế khác. Dưới sức ép của cạnh tranh, mọi người phải tích cực tìm cách cải tiến kĩ thuật, đổi mới phương pháp kinh doanh, tìm cách đầu tư thêm.
Trên thực tế, quy luật cạnh tranh thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật và phát triển kinh tế, nhưng đồng thời cũng đẩy mạnh sự phân hoá theo hai cực, có lúc gây ra lãng phí tài nguyên xã hội. 6 Bùi Quang Điệp Cao học QTKD 2010-2012 1. Các nguyên tắc của KTTT trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (1) Nguyên tắc “người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo” (the so-called Polluter-Pays Principle – nguyên tắc PPP) Nguyên tắc PPP thường được ứng dụng thông qua 2 cách tiếp cận chính sách khác nhau đó là: mệnh lệnh và kiểm soát và công cụ kinh tế. Tiếp cận mệnh lệnh và kiểm soát bao gồm việc thực thi và các tiêu chuẩn công nghệ còn những công cụ dựa vào thị trường hay công cụ kinh tế thì bao gồm các loại thuế ô nhiễm, quyền phát thải có thể mua bán và nhãn sản phẩm.
Việc loại bỏ các loại trợ cấp môi trường là cơ sở quan trọng trong việc vận dụng nguyên tắc PPP Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” là “nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốc tế”. Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” được hiểu là những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được quyết định bởi cơ quan có chức trách của chính quyền nhằm đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được. Trong phạm vi hẹp của định nghĩa này, PPP đòi hỏi người gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về tài chính đối với việc tuân thủ bất kỳ yêu cầu xử lý ô nhiễm nào phù hợp với quy định luật pháp. Nói một cách khác, PPP có thể được hiểu như là một “nguyên tắc không trợ cấp” khi các quốc gia trong khối này nhất trí cho rằng các khoản trợ cấp cho người gây ô nhiễm có thể trở thành vật cản trở đối với hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế.
(2) Nguyên tắc “người sử dụng, hưởng lợi từ TN&MT phải trả tiền” (nguyên tắc BPP) Nguyên tắc BPP chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về tài nguyên và môi trường. Đối nghịch với việc người trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng thụ một môi trường, đã được cải thiện cũng phải trả một khoản phí. Có thể hiểu nguyên tắc tắc này là tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm, thì đều phải nộp phí. Nguyên tắc này đưa ra 7 Bùi Quang Điệp Cao học QTKD 2010-2012 giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìn nhận riêng.
Nguyên tắc chủ trương việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất gây ô nhiễm. Vai trò nhà nước trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (1) Vai trò của thị trường đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong các xã hội hiện đại, các hoạt động kinh tế sử dụng rất nhiều loại đầu vào từ các tài nguyên thiên nhiên khác nhau. Chẳng hạn, các nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên, đập thủy điện, ethanol, năng lượng mặt trời và gió cung cấp các nguồn đầu vào để phát điện, xe cộ di chuyển và năng lượng cho các quy trình sản xuất. Một trong những đặc trưng của hầu hết các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên và môi trường là tính phụ thuộc vào thời gian.
Việc sử dụng chúng thường kéo dài theo thời gian, do đó, mức độ sử dụng trong một thời điểm sẽ ảnh hưởng đến số lượng sử dụng trong tương lai. Điều này càng rõ hơn đối với các tài nguyên không thể tái tạo, khi mà mức độ sử dụng các tài nguyên này trong hiện tại sẽ ảnh hưởng đến số tài nguyên còn lại trong tương lai.