Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2011-2015, tỉnh Bình Định ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương bình quân đạt 9,2%, trong đó tỷ trọng khối ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 29,2% lên 30,4%. Bước sang giai đoạn 2016-2020, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8% mỗi năm, với mức tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng kỳ vọng đạt 12,5%. Sự gia tăng mạnh mẽ của các công trình hạ tầng trọng điểm như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 19 hay các khu đô thị mới đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ khoáng sản cát xây dựng tăng vọt. Tuy nhiên, trước ngày 01/7/2011, doanh nghiệp khai thác chỉ nộp thuế tài nguyên ở mức 7.700 đồng/m3, phí bảo vệ môi trường từ 3.000 đến 5.000 đồng/m3 và lệ phí cấp phép khai thác từ 1 đến 15 triệu đồng/giấy phép, khiến nguồn thu ngân sách chưa phản ánh đúng giá trị thực của khối lượng tài nguyên bị khai thác.

Kể từ ngày 01/01/2014, theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP, tỉnh Bình Định bắt đầu triển khai thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cát với mức sàn từ 2.520 đồng/m3. Khi đối chiếu với mức bình quân 2.494 đồng/m3 của 7 tỉnh thành lân cận trong khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, mức thu của Bình Định cao hơn đáng kể so với Quảng Nam (từ 972 đến 2.160 đồng/m3), Quảng Ngãi (1.440 đồng/m3) hay Phú Yên (1.160 đồng/m3). Bài toán đặt ra là xác định một mức thu tiền cấp quyền tối ưu: nếu định giá quá thấp sẽ gây thất thoát tài sản công, còn nếu định giá quá cao sẽ triệt tiêu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đề tài tập trung xác định mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác cát của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định trong khoảng thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 7/2016. Nghiên cứu khảo sát toàn diện đối với 31 doanh nghiệp được cấp phép khai thác cát vàng và cát xây dựng thông thường ven các lưu vực sông chính, cung cấp luận cứ thực chứng giúp cơ quan quản lý công xây dựng chính sách tài chính khoáng sản hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên do Munasinghe phát triển vào năm 1993. Theo mô hình này, tổng giá trị kinh tế bao gồm giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng. Giá trị sử dụng của tài nguyên cát được cấu thành từ giá trị sử dụng trực tiếp như cung ứng vật liệu phối trộn bê tông, san lấp nền móng công trình và giá trị sử dụng gián tiếp liên quan đến cảnh quan, hệ sinh thái bờ sông. Bên cạnh đó, giá trị không sử dụng phản ánh nguyện vọng bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai và duy trì tính ổn định của dòng chảy tự nhiên.

Lý thuyết kinh tế môi trường về mức sẵn lòng chi trả do Turner, Pearce và Bateman đề xuất năm 1995, kết hợp với các nguyên lý kinh tế học vi mô của Mankiw năm 2003, xác định mức sẵn lòng chi trả là số tiền tối đa mà một cá nhân hoặc tổ chức chấp nhận chi trả để có được quyền khai thác, thụ hưởng một đơn vị hàng hóa tài nguyên. Về bản chất kinh tế, đường sẵn lòng chi trả chính là biểu hiện cụ thể của đường cầu thị trường đối với quyền khai thác khoáng sản.

Song song đó, nghiên cứu vận dụng quan điểm phát triển bền vững theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, nhấn mạnh việc khai thác tài nguyên không tái tạo phải được bù đắp bằng các nguồn vốn nhân tạo hoặc quỹ tài chính công tương đương. Các khái niệm nền tảng về thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, lệ phí cấp phép và tiền cấp quyền khai thác theo Luật Khoáng sản năm 2010 được tích hợp đồng bộ để định hình mô hình đánh giá hành vi chi trả của doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lựa chọn phương pháp định giá ngẫu nhiên làm công cụ đo lường trực tiếp mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác cát. Phương pháp này được chọn vì có khả năng mô phỏng thị trường giao dịch giả định đối với quyền khai thác tài nguyên khi cơ chế đấu giá công khai chưa được vận hành phổ biến.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu: Đề tài tiến hành khảo sát toàn bộ tổng thể gồm 31 doanh nghiệp đang trực tiếp hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn toàn tỉnh Bình Định. Việc chọn mẫu toàn diện 100% đối tượng giúp loại trừ sai số chọn mẫu và phản ánh đầy đủ bức tranh thực tế của ngành. Kỹ thuật thu thập dữ liệu kết hợp phỏng vấn trực tiếp 16 doanh nghiệp và phỏng vấn sâu qua điện thoại đối với 15 doanh nghiệp, sử dụng phiếu khảo sát gồm 19 câu hỏi cấu trúc rõ ràng.

Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định, bao gồm số liệu quy hoạch 33 điểm mỏ, tổng trữ lượng dự báo 40,965 triệu m3 trên diện tích 8.815 ha. Kỹ thuật đặt câu hỏi mở được áp dụng để người trả lời tự do bộc lộ mức chi trả tối đa trên mỗi mét khối cát mà không bị neo giá bởi người phỏng vấn. Toàn bộ số liệu thu thập trong giai đoạn từ tháng 01/2014 đến tháng 7/2016 được làm sạch, mã hóa và phân tích thông qua phần mềm SPSS 22 cùng hệ số thống kê mô tả nhằm xác định giá trị trung bình, kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm biến tác động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy hoạch tài nguyên cát xây dựng của tỉnh Bình Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 ghi nhận tổng diện tích khai thác đạt 8.815 ha tại 33 điểm mỏ với trữ lượng dự báo 40,965 triệu m3. Tài nguyên phân bố chủ yếu dọc theo 6 lưu vực sông lớn, trong đó huyện Phù Cát chiếm trữ lượng lớn nhất với 13,55 triệu m3 (tương đương hơn 33% toàn tỉnh), tiếp đến là huyện Tây Sơn với 4,54 triệu m3. Tỉnh đã khoanh định 45 khu vực không đấu giá quyền khai thác cát trên diện tích 857,25 ha, chiếm tỷ trọng 11,2% tổng diện tích các loại khoáng sản không đấu giá.

Thứ hai, cơ cấu chủ thể khai thác cho thấy loại hình doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng chi phối với hơn 58% (khoảng 17 đến 19 đơn vị trong giai đoạn 2014-2016), còn lại là các công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã. Đến ngày 31/7/2016, toàn tỉnh có 29 giấy phép khai thác cát đang còn hiệu lực, 8 doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ cấp mới và 5 doanh nghiệp đang tạm ngừng để thăm dò mở rộng hoặc gia hạn giấy phép.

Thứ ba, mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác bình quân của 31 doanh nghiệp dao động quanh mức 2.450 đồng/m3, thấp hơn nhẹ so với mức thu thực tế 2.520 đồng/m3 mà tỉnh đang áp dụng. Các yếu tố như vị trí mỏ cát tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển và hình thức giao dịch bán cát trực tiếp tại mỏ làm tăng mức sẵn lòng chi trả của doanh nghiệp lên từ 12% đến 18% do tiết kiệm chi phí bốc xếp, vận chuyển đường dài.

Thứ tư, các biến số cá nhân của chủ doanh nghiệp tạo nên sự phân hóa rõ rệt: nhóm chủ doanh nghiệp có độ tuổi trên 50 và có trình độ học vấn đại học có xu hướng đưa ra mức sẵn lòng chi trả thận trọng hơn khoảng 10% đến 15% so với nhóm chủ doanh nghiệp trẻ tuổi, do khả năng hạch toán chi phí biên và đánh giá rủi ro thị trường chặt chẽ hơn.

Thảo luận kết quả

Mối tương quan giữa các biến độc lập và mức sẵn lòng chi trả phản ánh chính xác quy luật tối đa hóa lợi nhuận của khu vực tư nhân. Khi biểu diễn phân phối mức sẵn lòng chi trả theo khu vực địa lý trên biểu đồ cột, các mỏ cát nằm dọc sông Kôn và sông Hà Thanh gần các trung tâm tiêu thụ lớn như thành phố Quy Nhơn và thị xã An Nhơn luôn đạt mức sẵn lòng chi trả cao hơn đáng kể so với các điểm mỏ vùng cao tại An Lão hay Vĩnh Thạnh. Bảng kiểm định thống kê cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê rõ nét với độ tin cậy trên 95%.

Nguyên nhân chính xuất phát từ kết cấu hạ tầng giao thông và cự ly vận chuyển. Những doanh nghiệp khai thác tại địa bàn thuận lợi có thể đạt giá bán đầu ra cao và giảm thiểu hao mòn phương tiện, từ đó sẵn sàng chia sẻ địa tô tài nguyên lớn hơn cho ngân sách. Ngược lại, tại các khu vực hẻo lánh, chi phí mở đường công vụ và vận chuyển khiến biên lợi nhuận bị bào mòn.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố của Nguyễn Văn Song và cộng sự năm 2011 cũng như Nguyễn Văn Ngãi và cộng sự năm 2012, khi đều khẳng định rằng vị trí địa lý, nhận thức pháp lý và trình độ quản trị đóng vai trò quyết định đến độ co giãn của mức sẵn lòng chi trả cho tài nguyên môi trường. Tuy nhiên, việc Bình Định chưa tổ chức được phiên đấu giá mỏ cát nào tính đến tháng 7/2016 đã làm giảm tính thanh khoản và hạn chế cơ hội tối ưu hóa nguồn thu công qua cơ chế thị trường tự do.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, điều chỉnh linh hoạt khung giá tính tiền cấp quyền khai thác cát: Sở Tài nguyên và Môi trường cần chủ trì phối hợp với Sở Tài chính tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định ban hành bảng giá tính tiền cấp quyền phân cấp theo 3 nhóm khu vực kinh tế (đặc biệt khó khăn, khó khăn và vùng phát triển). Mức thu đề xuất điều chỉnh dao động linh hoạt từ 2.100 đến 2.600 đồng/m3 tùy theo vị trí mỏ, hoàn thành áp dụng trước quý IV/2017 nhằm đảm bảo tỷ lệ thu đúng, thu đủ đạt 100% kế hoạch dự toán.

Thứ hai, đẩy mạnh tổ chức đấu giá công khai quyền khai thác khoáng sản: Hội đồng bán đấu giá quyền khai thác khoáng sản tỉnh cần khẩn trương đưa 2 điểm mỏ cát có điều kiện hạ tầng thuận lợi tại huyện Tây Sơn ra đấu giá công khai trong năm 2017. Mục tiêu hướng tới việc nâng tỷ trọng diện tích mỏ cát đưa ra đấu giá đạt ít nhất 30% tổng số mỏ quy hoạch trong giai đoạn 2017-2020, tạo nguồn thu vượt từ 15% đến 20% so với giá khởi điểm.

Thứ ba, thiết lập hệ thống giám sát sản lượng và kiểm soát tải trọng tự động: Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã cùng lực lượng Thanh tra giao thông và Công an tỉnh yêu cầu 100% doanh nghiệp khai thác cát lắp đặt trạm cân tải trọng và camera giám sát kết nối trực tiếp dữ liệu về cơ quan thuế trước tháng 12/2018. Biện pháp này giúp quản lý chặt chẽ công suất phát triển vật liệu cát hướng tới mốc 1.595 nghìn m3/năm vào năm 2020, ngăn ngừa thất thoát sản lượng khai thác thực tế.

Thứ tư, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính và đào tạo pháp lý: Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện cắt giảm tối thiểu 25% thời gian thẩm định hồ sơ cấp phép thăm dò, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn 2017-2019. Đồng thời, tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn mỗi năm cho 31 doanh nghiệp về các quy định mới của Luật Khoáng sản và nghĩa vụ bảo vệ lòng sông, chống sạt lở bờ bãi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và tài chính công: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Cục Thuế và Ủy ban nhân dân các cấp có thể sử dụng số liệu thực chứng của đề tài để làm căn cứ khoa học xây dựng bảng giá tính tiền cấp quyền khoáng sản, phê duyệt quy hoạch mỏ và thiết kế các tiêu chí đấu giá quyền khai thác cát sát với thực tiễn thị trường địa phương.

Cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác và vật liệu xây dựng: Ban giám đốc, trưởng phòng kế hoạch và kỹ sư mỏ có thể tham khảo phương pháp hạch toán chi phí tài nguyên, phân tích các yếu tố tác động đến giá thành khai thác và định hình chiến lược tham gia đấu giá quyền khai thác mỏ với mức bỏ giá tối ưu nhất.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế tài nguyên môi trường: Công trình cung cấp một ca nghiên cứu thực tiễn điển hình về việc ứng dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên để giải quyết bài toán định giá tài sản công, phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.

Các tổ chức tư vấn quy hoạch và đơn vị thẩm định giá: Các chuyên gia định giá tài sản có thể khai thác mô hình 12 biến số tương quan để xây dựng quy trình thẩm định giá trị quyền khai thác mỏ khoáng sản, lập báo cáo tiền khả thi cho các dự án khai thác cát xây dựng quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp định giá ngẫu nhiên được vận dụng như thế nào để xác định mức sẵn lòng chi trả của doanh nghiệp? Phương pháp được triển khai qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp và bảng hỏi mở đối với đại diện 31 doanh nghiệp khai thác cát. Doanh nghiệp tự do đề xuất số tiền tối đa chấp nhận nộp cho 1m3 cát cấp quyền. Dữ liệu sau đó được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS 22 để xác định mức chi trả bình quân.

Tại sao mức thu tiền cấp quyền khai thác cát tại Bình Định lại cao hơn mức bình quân của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ? Mức thu 2.520 đồng/m3 tại Bình Định cao hơn mức trung bình khu vực (2.494 đồng/m3) do tỉnh áp dụng giá tính thuế tài nguyên 70.000 đồng/m3 ở mức tương đối cao. Trong khi đó, các địa phương lân cận như Quảng Nam chỉ áp dụng mức thu từ 972 đến 2.160 đồng/m3 và Quảng Ngãi áp dụng mức 1.440 đồng/m3.

Quy hoạch tài nguyên cát xây dựng tỉnh Bình Định giai đoạn đến năm 2020 có quy mô ra sao? Theo quyết định phê duyệt quy hoạch của tỉnh, toàn tỉnh có 33 điểm mỏ cát với tổng diện tích 8.815 ha và trữ lượng dự báo đạt 40,965 triệu m3. Quy hoạch đặt mục tiêu phát triển công suất khai thác cát phục vụ vật liệu xây dựng đạt 1.595 nghìn m3 mỗi năm vào năm 2020.

Những yếu tố nào tác động mạnh nhất đến mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền của chủ mỏ cát? Các yếu tố tác động lớn nhất gồm điều kiện kinh tế của khu vực khai thác, địa điểm giao dịch và hình thức bán hàng. Khai thác gần trung tâm đô thị lớn và bán trực tiếp tại mỏ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí bốc dỡ, qua đó gia tăng mức sẵn lòng trả tiền cấp quyền cao hơn từ 12% đến 18%.

Nghiên cứu có đóng góp gì cho công tác quản lý tài nguyên khoáng sản theo hướng bền vững? Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về phản ứng chi phí của doanh nghiệp trước các sắc thuế phí. Điều này giúp chính quyền địa phương cân đối nguồn thu ngân sách mà không tạo áp lực quá tải lên giá thành vật liệu xây dựng, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên ven 6 dòng sông lớn của tỉnh.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện hiện trạng quy hoạch 40,965 triệu m3 cát tại 33 điểm mỏ trên địa bàn tỉnh Bình Định.
  • Đo lường thành công mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác cát bình quân của 31 doanh nghiệp, tiệm cận ngưỡng 2.450 đồng/m3.
  • Chứng minh rõ nét tác động của 12 biến số thuộc nhóm đặc điểm mỏ, thông tin chủ doanh nghiệp và phương thức kinh doanh đến hành vi chi trả.
  • Đóng góp luận cứ khoa học giúp cơ quan quản lý chuyển đổi từ cơ chế áp đặt hành chính sang định giá tài nguyên dựa trên phản hồi thị trường.
  • Đề xuất lộ trình đồng bộ từ điều chỉnh biểu giá, tổ chức đấu giá thí điểm đến lắp đặt hệ thống trạm cân giám sát tự động giai đoạn 2017-2020.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách công và cộng đồng nghiên cứu kinh tế môi trường. Quý độc giả, nhà quản lý và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác các mô hình phân tích chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác quản trị và thực thi chính sách khoáng sản tại địa phương.