Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 9340410) của tác giả Bùi Minh Thủy, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Toàn tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2023), tập trung nghiên cứu đề tài: "Mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo với tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam".
Quá trình đổi mới từ năm 1986 đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng, chuyển dịch từ nhóm thu nhập thấp sang thu nhập trung bình thấp; quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 11 lần, từ 31,17 tỷ USD năm 2000 lên 343 tỷ USD năm 2020, thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 15 lần trong giai đoạn 1985–2021. Đi kèm với sự phát triển này là nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng mạnh: sản lượng điện hàng năm tăng hơn 20 lần, từ 8,6 TWh năm 1990 lên 240,1 TWh năm 2019 và đạt 247,08 TWh vào năm 2020; tốc độ tăng tiêu thụ điện đạt khoảng 13%/năm. Áp lực công nghiệp hóa và đô thị hóa dựa trên việc khai thác tài nguyên thô và năng lượng hóa thạch đã khiến lượng phát thải khí nhà kính gia tăng, trong đó phát thải CO2 tại Việt Nam tăng gấp 15 lần từ năm 1990 đến năm 2019, ghi nhận mức tăng cao nhất trong khối các nước ASEAN (theo số liệu của Ngân hàng Thế giới).
Trước các cam kết quốc tế tại Hội nghị COP26 về việc đưa mức phát thải ròng bằng không vào năm 2050 và mục tiêu của Thỏa thuận Paris nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2°C, việc tái cơ cấu nguồn năng lượng theo hướng bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam phần lớn chỉ khảo sát tiêu thụ năng lượng nói chung hoặc khảo sát các cặp biến số riêng lẻ, chưa phân tách cụ thể từng loại hình năng lượng và chưa kiểm định đầy đủ trong mô hình đa biến.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Phân tích tác động của tiêu thụ năng lượng tái tạo đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn.
- Phân tích tác động của tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế đến lượng phát thải CO2 trong dài hạn và mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn.
- Đề xuất các chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo gắn với tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải CO2 tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan để kế thừa, phát triển và xác định khoảng trống nghiên cứu.
- Xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2.
- Phân tích thực trạng mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải CO2 tại Việt Nam.
- Sử dụng mô hình phân tích mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp, các chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo gắn với tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải CO2 tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và lượng phát thải CO2.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào tác động dài hạn và quan hệ nhân quả ngắn hạn, dài hạn giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế; tác động của tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và dân số đô thị đến phát thải CO2 dưới mô hình đường cong môi trường Kuznets (EKC). Các nguồn năng lượng tái tạo bao gồm thủy điện nhỏ, sinh khối, gió, địa nhiệt và mặt trời. Phát thải CO2 được giới hạn là khí phát sinh từ đốt nhiên liệu hóa thạch và sản xuất xi măng.
- Phạm vi không gian: Cấp độ quốc gia tại Việt Nam (không phân tích theo từng địa phương hoặc tách biệt từng loại hình năng lượng tái tạo riêng lẻ trong tương quan với GDP).
- Phạm vi thời gian: Phân tích định lượng tác động tiêu thụ năng lượng tái tạo đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1995–2019; phân tích định lượng mối quan hệ giữa năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 giai đoạn 1990–2018; phân tích định tính thực trạng từ năm 1995 đến nay (thời điểm hoàn thành luận án năm 2023).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình nghiên cứu thực nghiệm thành hai mảng chủ đề chính:
Mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế
Tác giả dẫn phân loại của Omri (2013) về 4 nhóm giả thuyết nhân quả:
- Giả thuyết tăng trưởng kinh tế (năng lượng tác động đến tăng trưởng): Khoảng 20% nghiên cứu ủng hộ. Các công trình tiêu biểu gồm Lee (2005) nghiên cứu 18 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1975–2001; Soytas và Sari (2003) tại Nhật Bản và Đức; Tang và cộng sự (2016) tại Việt Nam giai đoạn 1971–2011; Chontanawat và cộng sự (2008) tại 100 quốc gia; Phùng Thanh Bình (2011) tại Việt Nam giai đoạn 1976–2010.
- Giả thuyết bảo toàn (tăng trưởng kinh tế tác động đến tiêu thụ năng lượng): Khoảng 40% nghiên cứu ủng hộ. Tiêu biểu gồm Lê Quang Cảnh (2011) tại Việt Nam giai đoạn 1975–2010; Nguyễn Duy Lợi (2012) tại Việt Nam giai đoạn 1986–2006; Hồ Thúy Ngọc và cộng sự (2018); Sadorsky (2009) tại 18 quốc gia mới nổi giai đoạn 1994–2003 và tại các nước G7; Bowden và Payne (2010); Armeanu và cộng sự (2017); Ocal và Aslan (2013) tại Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1990–2010.
- Giả thuyết phản hồi (mối quan hệ hai chiều): Tiêu biểu gồm Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2018) tại Việt Nam; Muhammad Shahbaz và cộng sự (2012) tại Pakistan; Kahia và cộng sự (2016) tại 11 quốc gia nhập khẩu dầu giai đoạn 1980–2012; Inglesi-Lotz (2016); Rafindadi và Ozturk (2017); Gyimah (2020); Apergis và Payne (2010).
- Giả thuyết trung lập (không có mối quan hệ): Khoảng 40% nghiên cứu ủng hộ, bao gồm Ozcan và Ozturk (2019); Ozturk và Acaravci (2010); Payne (2009) tại Mỹ; Menegaki (2011) tại 27 nước châu Âu; Mahmoodi và Mahmoodi (2011) tại Bangladesh và Sri Lanka; Abanda và cộng sự (2012) tại khối các nước châu Phi giai đoạn 1980–2008; Khoshnevis Yazdi và Shakhouri (2017) tại Iran; Gan và Smith (2011).
- Các kết quả hỗn hợp: Al-mulali và cộng sự (2013) tại các nhóm nước thu nhập khác nhau giai đoạn 1980–2009; Tugcu và cộng sự (2012) tại nhóm G7 giai đoạn 1980–2009; Apergis và cộng sự (2010) tại 19 quốc gia giai đoạn 1984–2007.
| Nhóm giả thuyết |
Hướng tác động nhân quả |
Tỷ lệ nghiên cứu ủng hộ (Omri, 2013) |
Hàm ý chính sách theo lý thuyết |
| Tăng trưởng kinh tế |
Tiêu thụ NLTT $\rightarrow$ Tăng trưởng kinh tế |
Khoảng 20% |
Năng lượng là yếu tố đầu vào thiết yếu; chính sách hạn chế năng lượng gây bất lợi cho tăng trưởng GDP. |
| Bảo toàn |
Tăng trưởng kinh tế $\rightarrow$ Tiêu thụ NLTT |
Khoảng 40% |
Nền kinh tế ít phụ thuộc vào năng lượng; các chính sách quản lý năng lượng ít ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP. |
| Phản hồi |
Tiêu thụ NLTT $\leftrightarrow$ Tăng trưởng kinh tế |
Tùy bối cảnh |
Hai yếu tố phụ thuộc lẫn nhau; việc ban hành chính sách năng lượng cần tính toán tác động kinh tế vĩ mô. |
| Trung lập |
Không có mối quan hệ nhân quả |
Khoảng 40% |
Tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng GDP vận hành độc lập, không tác động qua lại. |
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát thải CO2 và năng lượng tái tạo (giả thuyết EKC)
Kể từ công trình của Grossman và Krueger (1991, 1992), mối quan hệ giữa tăng trưởng và suy thoái môi trường thường được kiểm định qua đường cong môi trường Kuznets (EKC) hình chữ U ngược. Các nghiên cứu tiếp nối như Shafik (1994), Schmalensee và cộng sự (1998), Heil và Selden (2001) đã kiểm định giả thuyết này.
- Tại Việt Nam: Usama và cộng sự (2014) giai đoạn 1981–2011 và Nguyễn Thị Hợp và cộng sự (2018) không tìm thấy bằng chứng ủng hộ giả thuyết EKC; trong khi Tang và Tan (2015) chứng minh sự tồn tại của EKC hình chữ U ngược; nghiên cứu của Shahbaz và cộng sự (2019) chưa chứng minh được tương quan chữ U ngược.
- Nghiên cứu quốc tế về năng lượng tái tạo và CO2: Apergis và Payne (2010, 2014, 2015), Dogan và Seker (2016), Charfeddine và Kahia (2019), Bölük và Mert (2014, 2015), Anwar và cộng sự (2021), Aziz và cộng sự (2020), Sharif và cộng sự (2019, 2020), Godil và cộng sự (2020), Dong và cộng sự (2017, 2018), Bhattacharya và cộng sự (2016) đều ghi nhận năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải CO2. Ngược lại, Abdelbaki Cherni và Sana Essaber Jouini (2017) tại Tunisia không tìm thấy mối quan hệ giữa CO2 và năng lượng tái tạo.
- Tác động của đô thị hóa và FDI: Anwar và cộng sự (2021), Bekhet và cộng sự (2017), Salahuddin và cộng sự (2018), Martínez-Zarzoso và Maruotti (2011), Binlin Li và cộng sự (2021), Hossain (2011), Sharma (2011) nghiên cứu tác động của đô thị hóa đến phát thải; Acharya (2009), Muhammad và cộng sự (2011), Hitam và Borhan (2012), Seker và cộng sự (2015), Fahri (2015) kiểm định ảnh hưởng của FDI đến chất lượng môi trường theo khung phân tích EKC.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu sử dụng mô hình hai biến hoặc chưa đưa đầy đủ các biến số đầu vào cơ bản (vốn và lao động) vào mô hình, dẫn đến nguy cơ sai lệch do bỏ sót biến. Luận án tích hợp lý thuyết Solow với hàm Cobb-Douglas mở rộng để kiểm định quan hệ dài hạn và quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và GDP.
- Chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam tách biệt cụ thể nguồn năng lượng tái tạo mà đa số xem xét năng lượng tổng thể.
- Kết quả kiểm định giả thuyết EKC tại Việt Nam chưa đồng nhất; luận án mở rộng mô hình kiểm định bậc hai với sự tham gia của các biến giải thích gồm năng lượng tái tạo, FDI và dân số đô thị bằng mô hình ARDL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Năng lượng tái tạo: Luận án sử dụng khái niệm của Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA): là nguồn năng lượng từ các nguồn được bổ sung tự nhiên, hầu như không cạn kiệt theo thời gian nhưng có giới hạn về sản lượng trên một đơn vị thời gian. Gồm 5 nguồn chính: gió, mặt trời, sinh khối, địa nhiệt và thủy điện nhỏ; đơn vị đo lường là triệu tỷ BTU.
- Tăng trưởng kinh tế: Luận án tiếp cận theo quan điểm của Thirlwall (sự gia tăng thu nhập hoặc sản lượng tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian, tính theo tăng trưởng thực tế), Samuelson và Ngân hàng Thế giới. Đo lường thông qua quy mô GDP thực tế, GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng. Các nhân tố tác động gồm vốn, tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Phát thải CO2: Định nghĩa theo Ngân hàng Thế giới, phát sinh trực tiếp từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch (rắn, lỏng, khí) và sản xuất xi măng; hệ số quy đổi từ tấn carbon sang tấn CO2 là 3,664.
- Khung phân tích kinh tế:
- Khung lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh Solow (1956) với hàm sản xuất Cobb-Douglas $Y = F(K, L) = A \cdot K^\alpha L^\beta$ và lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1986) $Y = F(A, K, L)$, trong đó công nghệ $A$ gắn liền với tiêu thụ năng lượng.
- Cơ chế tác động của tăng trưởng đến môi trường qua 3 hiệu ứng của Grossman và Krueger (1991), Stern (2004): hiệu ứng quy mô, hiệu ứng cơ cấu và hiệu ứng kỹ thuật.
- Khung phân tích đường cong môi trường Kuznets (EKC) dạng phi tuyến bậc hai.
| Loại năng lượng |
SOx (Mưa axít) |
NOx (Mưa axít) |
Bụi |
CO2eq (KNK) |
Tác động đến rừng |
| Than |
x |
x |
x |
x |
- |
| Sản phẩm dầu |
x |
x |
x |
Rất ít |
- |
| Thủy điện lớn |
- |
- |
- |
- |
Mất rừng |
| Mặt trời |
- |
- |
- |
- |
- |
| Gió |
- |
- |
- |
- |
- |
| Sinh khối |
Rất ít |
Rất ít |
x |
Trung hòa |
Thúc đẩy trồng rừng |
| Thủy điện nhỏ |
- |
- |
- |
- |
Không đáng kể |
| Địa nhiệt |
Rất ít |
Rất ít |
- |
- |
- |
(Ghi chú theo tác giả: "x" có tác động; "-" không tác động. Nguồn: Bộ Công Thương - Viện Năng lượng, 2008).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: Thu thập, phân tích, so sánh và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, các báo cáo ngành, Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Cơ quan Năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA) và EIA.
- Phương pháp định lượng:
- Sử dụng phương pháp ước lượng tự hồi quy phân phối trễ tuyến tính (ARDL) do Pesaran và Shin (1999), Pesaran và cộng sự (2001) đề xuất. Ưu điểm: chỉ ước tính một phương trình duy nhất thay vì hệ phương trình; áp dụng được cho chuỗi dừng ở mức sai phân I(1) hoặc kết hợp I(0) và I(1), không có biến I(2); phù hợp với mẫu nghiên cứu quy mô nhỏ.
- Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger do Engle và Granger (1987) phát triển để xác định chiều hướng tác động ngắn hạn và dài hạn.
- Các bước kiểm định hỗ trợ: Kiểm định tính dừng (ADF, Phillips-Perron), lựa chọn độ trễ tối ưu (AIC, SBC), kiểm định liên kết biên (Bounds Test), kiểm định ổn định mô hình (CUSUM, CUSUMSQ), và các kiểm định khuyết tật mô hình (tự tương quan, phương sai thay đổi, phân phối chuẩn).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo với tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2
Chương này tổng kết hệ thống các công trình trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa năng lượng và tăng trưởng theo 4 nhóm giả thuyết (tăng trưởng, bảo toàn, phản hồi, trung lập) và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát thải CO2 theo giả thuyết EKC. Tác giả chỉ ra các điểm bất đồng trong kết quả thực nghiệm quốc tế xuất phát từ sự khác biệt về mẫu quốc gia, giai đoạn dữ liệu và phương pháp ước lượng. Từ đó, xác lập khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam: sự cần thiết phải phân tích đa biến kết hợp vốn và lao động đối với năng lượng tái tạo, cũng như kiểm định vai trò của năng lượng tái tạo, FDI và đô thị hóa trong mô hình phát thải CO2.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo với tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2
Chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản, phương pháp đo lường, đặc tính và vai trò của năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2. Tác giả lập bảng so sánh tác động môi trường giữa các loại hình năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. Trên cơ sở hàm sản xuất Cobb-Douglas thuộc lý thuyết tân cổ điển Solow và hàm sản xuất nội sinh Romer, chương này xây dựng cơ chế lý thuyết giải thích tác động của tiêu thụ năng lượng tái tạo đến tăng trưởng GDP, đồng thời luận giải mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 thông qua 3 hiệu ứng (quy mô, cơ cấu, kỹ thuật) của đường cong môi trường Kuznets.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo với tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2
Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu định lượng gồm 7 bước: thu thập số liệu, kiểm định tính dừng, xác định độ trễ tối ưu, kiểm định liên kết biên ARDL, ước lượng quan hệ ngắn hạn và dài hạn, kiểm định chẩn đoán mô hình (CUSUM, CUSUMSQ, tự tương quan, phương sai thay đổi) và kiểm định nhân quả Granger.
Tác giả thiết lập 2 mô hình kinh tế lượng:
- Mô hình 1 (Tăng trưởng kinh tế - giai đoạn 1995–2019): Đánh giá tác động của tiêu thụ năng lượng tái tạo đến GDP thực tế, kết hợp biến vốn (tổng vốn cố định trong nước) và biến lực lượng lao động.
- Mô hình 2 (Phát thải CO2 - giai đoạn 1990–2018): Đánh giá tác động của tiêu thụ năng lượng tái tạo, GDP, bình phương GDP ($GDP^2$), FDI và dân số đô thị đến lượng phát thải CO2 theo cấu trúc kiểm định giả thuyết EKC.
Chương 4: Thực trạng về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo với tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam và kết quả nghiên cứu định lượng
Chương 4 kết hợp phân tích thực trạng và trình bày kết quả ước lượng thực nghiệm:
- Thực trạng: Tốc độ tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2010–2022; tốc độ tăng sản lượng điện (từ 8,6 TWh năm 1990 lên 247,08 TWh năm 2020); diễn biến phát triển công suất điện gió, điện mặt trời giai đoạn 2009–2019 dưới tác động của các cơ chế biểu giá cố định (FIT 1, FIT 2); số liệu phát thải khí nhà kính qua các kỳ kiểm kê năm 2000, 2010, 2013, 2014, 2020 và mục tiêu giảm phát thải trong NDC 2020, NDC 2022.
- Kết quả mô hình 1: Kiểm định tính dừng xác nhận các biến dừng ở I(0) hoặc I(1); kiểm định liên kết biên xác nhận tồn tại quan hệ đồng liên kết dài hạn; kiểm định CUSUM và CUSUMSQ xác nhận mô hình ổn định. Kết quả kiểm định nhân quả Granger xác nhận tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng tái tạo trong dài hạn (ủng hộ giả thuyết bảo toàn).
- Kết quả mô hình 2: Kiểm định liên kết biên khẳng định tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn; hệ số ước lượng của biến GDP mang dấu dương và biến $GDP^2$ mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, xác nhận sự tồn tại của đường cong môi trường Kuznets (EKC) hình chữ U ngược tại Việt Nam giai đoạn 1990–2018. Tiêu thụ năng lượng tái tạo có tác động làm giảm phát thải CO2 trong dài hạn. Kiểm định Granger chỉ ra quan hệ nhân quả hai chiều giữa các biến giải thích với CO2, và quan hệ một chiều từ FDI đến CO2 và tiêu thụ năng lượng tái tạo.
Chương 5: Phương hướng và giải pháp phát triển năng lượng tái tạo gắn với tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải CO2 tại Việt Nam
Chương 5 phân tích bối cảnh phát triển năng lượng và cam kết quốc tế của Việt Nam (Net Zero năm 2050, Quy hoạch điện VIII, NDC 2022); tổng hợp số liệu dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng giai đoạn 2021–2050 (triệu TOE) và dự báo phát thải CO2, GDP, tiêu thụ năng lượng tái tạo, dân số đô thị và FDI giai đoạn 2023–2030, tầm nhìn 2045/2050.
Từ các kết quả dự báo và phân tích định lượng, chương này đề xuất 5 nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện khung khổ thể chế, chuyển đổi từ cơ chế giá hỗ trợ cố định (FIT) sang cơ chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư và cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA).
- Phát triển và hiện đại hóa hạ tầng lưới điện truyền tải, tích hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) và lưới điện thông minh.
- Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, mở rộng cơ chế tín dụng xanh và thu hút nguồn vốn tư nhân, FDI vào các dự án năng lượng sạch.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị, vận hành hệ thống năng lượng tái tạo.
- Quy hoạch đô thị hóa bền vững và kiểm soát dòng vốn FDI hướng vào các ngành có công nghệ sạch, suất tiêu hao năng lượng thấp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 thông qua mô hình ARDL đa biến.
- Bằng chứng thực nghiệm xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng tái tạo trong dài hạn tại Việt Nam, qua đó ủng hộ giả thuyết bảo toàn.
- Xác nhận sự tồn tại của đường cong môi trường Kuznets (EKC) hình chữ U ngược đối với mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam trong giai đoạn 1990–2018 khi kiểm soát các biến số FDI, dân số đô thị và tiêu thụ năng lượng tái tạo.
- Xác định mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng GDP, tiêu thụ năng lượng tái tạo, FDI và dân số đô thị với lượng phát thải CO2 cả trong ngắn hạn và dài hạn; đồng thời ghi nhận mối quan hệ nhân quả một chiều từ FDI đến phát thải CO2 và đến tiêu thụ năng lượng tái tạo.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án khẳng định việc thực hiện các chính sách quản lý và phát triển năng lượng tái tạo không gây tác động bất lợi đến tăng trưởng GDP tại Việt Nam, trong khi các biến động của GDP sẽ dẫn dắt sự thay đổi trong sản lượng tiêu thụ năng lượng tái tạo.
- Việc tích hợp đồng thời năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế, FDI và đô thị hóa dưới mô hình EKC cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện hơn so với các phân tích đơn lẻ trước đây.
- Cung cấp luận cứ khoa học để các cơ quan quản lý Nhà nước hoạch định chiến lược chuyển dịch năng lượng, cơ cấu lại nguồn điện và thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính tại Hội nghị COP26.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất
- Xây dựng lộ trình chuyển đổi cơ chế giá điện tái tạo từ biểu giá FIT sang đấu thầu cạnh tranh và hợp đồng DPPA để phản ánh chi phí thị trường.
- Tập trung vốn đầu tư giải tỏa công suất lưới điện truyền tải nhằm khắc phục tình trạng quá tải cục bộ tại các khu vực tập trung nhiều dự án điện gió, điện mặt trời.
- Xây dựng tiêu chí chọn lọc dự án FDI gắn với các chỉ tiêu công nghệ sạch và tiết kiệm năng lượng.
- Lồng ghép tiêu chí giảm phát thải carbon vào quy hoạch đô thị hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về mức độ sẵn có và cập nhật của các nguồn dữ liệu thống kê chuỗi thời gian quốc tế (WB, EIA) tại thời điểm nghiên cứu, luận án chưa thể phân tách tác động của từng loại hình năng lượng tái tạo riêng biệt (điện gió, điện mặt trời, sinh khối, thủy điện nhỏ) đối với tăng trưởng kinh tế; đồng thời chưa phân tích theo từng vùng kinh tế hoặc địa phương cụ thể. Khung thời gian định lượng giữa hai mô hình có sự chênh lệch (mô hình tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu 1995–2019; mô hình phát thải CO2 sử dụng dữ liệu 1990–2018).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khi nguồn dữ liệu thống kê được cập nhật đầy đủ và chi tiết hơn, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng lượng hóa tác động của từng công nghệ năng lượng tái tạo riêng biệt đến tăng trưởng GDP, hoặc sử dụng dữ liệu bảng ở cấp độ địa phương/vùng kinh tế để đánh giá tính đặc thù theo không gian địa lý.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Luận án cung cấp các bằng chứng định lượng về tính khả thi của việc mở rộng quy mô năng lượng tái tạo mà không làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; hỗ trợ xây dựng cơ chế điều hành giá điện, quy hoạch phân bổ nguồn lực và triển khai kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo trong các chương trình đào tạo đại học và sau đại học thuộc khối ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Kinh tế tài nguyên và môi trường; cung cấp quy trình phân tích kinh tế lượng chuỗi thời gian sử dụng mô hình ARDL và kiểm định nhân quả Granger trên chuỗi số liệu thực tế tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Kết quả kiểm định nhân quả Granger trong luận án ủng hộ giả thuyết nào về mối quan hệ giữa năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam?
Kết quả ước lượng mô hình ARDL và kiểm định nhân quả Granger của luận án chỉ ra mối quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng tái tạo trong dài hạn. Kết quả này ủng hộ giả thuyết bảo toàn, hàm ý rằng các chính sách thúc đẩy năng lượng tái tạo hoặc các biện pháp quản lý năng lượng không gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP tại Việt Nam.
2. Luận án có chứng minh được sự tồn tại của đường cong môi trường Kuznets (EKC) tại Việt Nam không?
Có. Trong giai đoạn 1990–2018, mô hình hồi quy phi tuyến bậc hai cho thấy hệ số của biến GDP mang dấu dương và hệ số của biến $GDP^2$ mang dấu âm có ý nghĩa thống kê. Kết quả này khẳng định sự tồn tại của đường cong môi trường Kuznets (EKC) dạng hình chữ U ngược đối với phát thải CO2 tại Việt Nam.
3. Tiêu thụ năng lượng tái tạo trong luận án gồm những nguồn nào và đo lường bằng đơn vị gì?
Theo định nghĩa của EIA được luận án áp dụng, năng lượng tái tạo bao gồm 5 nguồn chính: thủy điện nhỏ, sinh khối, gió, địa nhiệt và mặt trời. Sản lượng tiêu thụ năng lượng tái tạo được đo lường bằng đơn vị triệu tỷ BTU.
4. Tác động dài hạn của tiêu thụ năng lượng tái tạo đến lượng phát thải CO2 tại Việt Nam được ghi nhận như thế nào?
Kết quả ước lượng mô hình định lượng trong dài hạn chỉ ra rằng tiêu thụ năng lượng tái tạo có hệ số mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê đối với lượng phát thải CO2. Điều này chứng minh việc gia tăng tiêu thụ năng lượng tái tạo trực tiếp góp phần làm giảm phát thải CO2 tại Việt Nam.
5. Quy mô phát thải CO2 và sản lượng điện tại Việt Nam đã biến động như thế nào trong các giai đoạn được luận án nêu?
Theo số liệu Ngân hàng Thế giới và các nguồn thống kê trong luận án, lượng phát thải CO2 tại Việt Nam tăng gấp 15 lần trong giai đoạn 1990–2019 (mức tăng cao nhất trong khối ASEAN). Đồng thời, sản lượng điện hàng năm tăng hơn 20 lần, từ 8,6 TWh năm 1990 lên 240,1 TWh năm 2019 và đạt 247,08 TWh vào năm 2020.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Minh Thủy đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và lượng hóa mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 tại Việt Nam bằng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) và kiểm định nhân quả Granger. Kết quả thực nghiệm xác nhận sự tồn tại của giả thuyết bảo toàn (tăng trưởng GDP dẫn dắt tiêu thụ năng lượng tái tạo trong dài hạn) và kiểm chứng thành công giả thuyết đường cong môi trường Kuznets hình chữ U ngược giai đoạn 1990–2018. Luận án khẳng định các chính sách phát triển năng lượng tái tạo không cản trở mục tiêu tăng trưởng GDP, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc giảm phát thải CO2. Các đề xuất chuyển đổi cơ chế hỗ trợ giá sang đấu thầu cạnh tranh, nâng cấp hạ tầng lưới điện truyền tải và kiểm soát tiêu chuẩn môi trường đối với dòng vốn FDI cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ lộ trình đạt mức phát thải ròng bằng không vào năm 2050 của Việt Nam.