Luận án tiến sĩ: Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở Cần Thơ

Chuyên đề nghiên cứu Những yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra tại Cần Thơ, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

207
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.2. Các công trình liên quan đến đề tài luận án

1.3. Đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG NÔNG NGHIỆP

2.1. Khái niệm, đặc điểm về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp

2.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao của nông hộ

2.3. Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và bài học cho thành phố Cần Thơ

2.4. Xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Nghiên cứu định tính

3.2. Nghiên cứu định lượng

4. THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG NUÔI CÁ TRA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

4.1. Khái quát về thành phố Cần Thơ và tình hình ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở thành phố Cần Thơ

4.2. Phân tích thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở thành phố Cần Thơ

5. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH NÔNG HỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG NUÔI CÁ TRA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

5.1. Quan điểm và định hướng tăng cường ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở thành phố Cần Thơ

5.2. Các nhóm giải pháp khuyến khích nông hộ ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở thành phố Cần Thơ đến năm 2030

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra

Ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra tại Cần Thơ đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Cá tra không chỉ là một mặt hàng chủ lực mà còn là biểu tượng cho sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam. Việc áp dụng công nghệ trong nuôi trồng không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo nghiên cứu, việc ứng dụng công nghệ cao có thể cải thiện đáng kể hiệu quả sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập cho nông hộ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng tỷ lệ nông hộ áp dụng công nghệ cao vẫn còn thấp, điều này đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững của ngành nuôi cá tra.

1.1. Tình hình nuôi cá tra tại Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ là một trong những địa phương có diện tích nuôi cá tra lớn nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long. Theo số liệu thống kê, diện tích nuôi cá tra tại Cần Thơ chiếm khoảng 15,2% tổng diện tích nuôi cá tra của toàn vùng. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra vẫn chưa đạt được kỳ vọng. Các nông hộ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng công nghệ mới, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm chưa được cải thiện đáng kể. Điều này cho thấy cần có những giải pháp cụ thể để khuyến khích nông hộ áp dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra. Các yếu tố này bao gồm: vốn con người, điều kiện kinh tế, chính sách hỗ trợ từ chính quyền, và nhận thức của nông hộ về lợi ích của công nghệ cao. Vốn con người, bao gồm trình độ học vấn và kinh nghiệm, đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định khả năng áp dụng công nghệ mới. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ từ chính quyền cũng là một yếu tố không thể thiếu, giúp nông hộ có thêm động lực để đầu tư vào công nghệ cao. Nhận thức về lợi ích của công nghệ cũng ảnh hưởng lớn đến quyết định của nông hộ trong việc áp dụng công nghệ cao.

2.1. Vốn con người

Vốn con người là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng áp dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra. Trình độ học vấn và kinh nghiệm của nông hộ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ mới. Nghiên cứu cho thấy rằng những nông hộ có trình độ học vấn cao thường có xu hướng áp dụng công nghệ cao nhiều hơn. Điều này cho thấy cần có các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức cho nông hộ về lợi ích của công nghệ cao trong nuôi cá tra.

III. Định hướng và giải pháp khuyến khích ứng dụng công nghệ cao

Để tăng cường ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra, cần có những định hướng và giải pháp cụ thể. Chính quyền địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích nông hộ đầu tư vào công nghệ mới. Các chương trình đào tạo và tập huấn cũng cần được triển khai để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nông hộ. Bên cạnh đó, việc tạo ra các mô hình điểm về ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra sẽ giúp nông hộ có thêm động lực và niềm tin vào việc áp dụng công nghệ mới. Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn góp phần phát triển bền vững ngành nuôi cá tra tại Cần Thơ.

3.1. Chính sách hỗ trợ từ chính quyền

Chính quyền địa phương cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể để khuyến khích nông hộ áp dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra. Các chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ tài chính, cung cấp thông tin và tư vấn về công nghệ mới, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho nông hộ tiếp cận các nguồn lực cần thiết. Việc xây dựng các chương trình hỗ trợ này sẽ giúp nông hộ giảm bớt rủi ro và tăng cường khả năng đầu tư vào công nghệ cao, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 5 chương 12 tiết. luan an 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra và đo lường đóng góp của công nghệ nói chung và CNC nói riêng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Trong nông nghiệp cũng đã có không ít nghiên cứu tập trung làm rõ về vị trí, vai trò của việc ứng dụng CNC trong nông nghiệp. Các công trình đã tập trung làm rõ ở một số vai trò cụ thể như: Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng CNC góp phần nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất, đẩy nhanh quá trình sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. (2002) [21], cho rằng bản thân công nghệ là nhằm mục đích cải thiện một hiện trạng nhất định lên một mức độ mong muốn cao hơn. Cùng quan điểm này, Loevinsohn và cộng sự (2013) [96] cho rằng việc ứng dụng kỹ thuật, công nghệ cho phép một số nhiệm vụ được thực hiện dễ dàng hơn.

Nó hỗ trợ người sử dụng thực hiện công việc hiệu quả hơn so với những gì họ đã làm nếu không có công nghệ. Nó giúp người sử dụng làm việc dễ dàng hơn và giúp tiết kiệm thời gian và lao động; Challa, M. (2013) trong nghiên cứu ―Determining Factors and Impacts of Modern Agricultural Technology Adoption in West Wollega‖ [27] cho rằng việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp sẽ giúp cải thiện mối quan hệ đầu vào và đầu ra, công nghệ hiện đại có xu hướng nâng cao sản lượng và giảm chi phí sản xuất trung bình, do đó dẫn đến thu nhập trong nông nghiệp tăng lên đáng kể. Cùng quan điểm với nghiên cứu này, các nghiên cứu của Nguyễn Thành Hưng (2017) [70]; Trần Quốc Khánh, ―Nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam - con đường tất yếu và giải pháp phát triển‖ và Hoàng Thị Thu Hà, ―Vai trò của phát triển nông nghiệp CNC và đầu tư phát triển nông nghiệp CNC ở nước ta‖ (2017) [87].

Và các công trình: Nguyễn Văn Lân (2013) [88]; Nguyễn Văn Phú (2006) [117]; Phạm luan an 11 Sanh (2014) [134]; Đỗ Xuân Trường; Lê Thị Thu (2010) [167] cũng đã bổ sung, chỉ rõ việc ứng dụng, đưa những thành tựu, tiến bộ của KHCN vào trong hoạt động sản xuất là cơ sở để sử dụng hợp lý nguồn lực đất đai, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm; có vai trò quan trọng trong phát triển nền nông nghiệp Việt Nam trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng mạnh mẽ. Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp có vai trò giảm tính dễ bị tổn thương của những người nghèo, góp phần giảm nghèo bền vững. Thể hiện ở việc ứng dụng thành tựu, công nghệ hiện đại đang tạo ra và áp dụng các giống mới góp phần gia tăng tính chủ động và ổn định về giống mà trước đây lĩnh vực này ở ĐBSCL nói chung và TPCT nói riêng còn phụ thuộc vào giống tự nhiên. Việc sử dụng hệ thống máy móc, CNC có thể cho phép gia tăng hiệu quả, tạo thuận lợi cho sản xuất và tiêu thụ, đồng thời giảm thiểu tác động của biến động giá cả [80].

(2004) trong nghiên cứu ―How have the world's poorest fared since the early 1980s?‖ [28], tạm dịch là ―Những người nghèo nhất thế giới đã sống như thế nào kể từ đầu những năm 1980‖ cho rằng việc áp dụng các công nghệ nông nghiệp cải tiến có vai trò nâng cao thu nhập và giảm nghèo ở nông thôn trong các hộ nông dân; đảm bảo an ninh lương thực; tăng cơ hội việc làm cũng như thu nhập cho người lao động. Tác giả đã phát hiện, kiểm định vai trò của việc áp dụng các công nghệ cải tiến chính là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của cuộc cách mạng xanh mà các nước Châu Á đã đạt được. Cùng quan điểm này, Jain, R. (2009) đã khẳng định thêm rằng những người không áp dụng công nghệ trong nông nghiệp khó có thể duy trì sinh kế cận biên của họ và phát triển kinh tế - xã hội dễ bị đình trệ, dẫn đến thiếu thốn.

Do đó, công nghệ mới trong nông nghiệp giúp gia tăng sản lượng lương thực, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế bền vững. Điều này đã làm cho động lực của thay đổi kỹ thuật trong nông nghiệp trở thành một lĩnh vực được nghiên cứu mạnh mẽ kể từ đầu thế kỷ XX. Các nghiên cứu trong nước của Đỗ Xuân Trường; Lê Thị Thu (2010) [167], Phạm Sanh (2014) [134]; Nguyễn Thành Hưng (2017) [70]; Trần Quốc Khánh và luan an 12 Hoàng Thị Thu Hà (2017) [87] cũng đã chỉ ra vai trò, vị trí, sự cần thiết phải ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã và đang là phương thức để sinh kế, phát triển bền vững khu vực nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện khoa học và công nghệ ngày càng phát triển. Thứ ba, ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp cho phép gắn hiệu quả kinh tế với bảo vệ môi trường.

Ngày nay, tiến bộ của khoa học – công nghệ đã trở thành lực lượng sàn xuất trực tiếp, đóng góp ngày càng rõ rệt cho việc giảm thiểu những thách thức từ vấn đề già hóa dân số, gia tăng năng suất lao động, giá trị gia tăng cao hơn so với sản xuất bởi các công nghệ lạc hậu. Đặc biệt là trước sự hữu hạn của nguồn lực tài nguyên thiên nhiên cùng với đó là những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu thì việc ứng dụng các CNC sẽ giúp cho các quốc gia, vùng lãnh thổ có thể thích ứng và giảm nhẹ được những thách thức từ biến đổi khí hậu, hình thành những cách thức sản xuất thân thiện với môi trường, gia tăng năng suất của tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ sức khỏe của người sản xuất. Hay nói cách khác, động lực (chìa khóa) giúp người sản xuất vẫn có thể đạt được song trùng hai mục tiêu là hiệu quả kinh tế từ việc tiết kiệm chi phí đầu vào với mục tiêu bảo vệ môi trường, sức khỏe thông qua việc ứng dụng KHCN vào quá trình sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường. Do đó, ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp là yêu cầu then chốt của mỗi quốc gia khi đặt mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Các nghiên cứu tiếp cận từ góc độ chung trong nông nghiệp hay tiếp cận cho một lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cũng đều chỉ ra vai trò, ý nghĩa của công nghệ và ứng dụng CNC trong nông nghiệp đó là tăng năng suất, cải thiện mối quan hệ đầu vào và đầu ra theo hướng hiệu quả, giảm tính dễ bị tổn thương của nông hộ,đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi trường,… đây chính là cơ sở để các cơ quan quản lý đề ra các chính sách, chương trình nhằm khuyến khích nông hộ gia tăng tỷ lệ ứng dụng CNC trong sản xuất, đồng thời cũng chính là động luan an 13 lực thúc đẩy người sản xuất thay đổi, tăng cường áp dụng nhằm hướng đến việc phát triển bền vững. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp Hiện có nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của chủ thể sản xuất có hay không ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp. Phần lớn các công trình đều có điểm chung là việc quyết định ứng dụng CNC được xác định bởi đặc tính của công nghệ và tập hợp các điều kiện, hoàn cảnh của chủ thể ứng dụng công nghệ, Cụ thể như: Thứ nhất, các nghiên cứu chỉ ra đồng thời nhiều nhóm nhân tố có ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp như: Nghiên cứu của Akudugu, M. ―Adoption of modern agricultural production technologies by farm households in Ghana: What factors influence their decisions‖ [4], tạm dịch-Việc áp dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp hiện đại của các nông hộ ở Ghana: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ; nghiên cứu đã nhóm các yếu tố quyết định việc áp dụng công nghệ trong nông nghiệp thành ba nhóm nhân tố: các yếu tố kinh tế, xã hội và thể chế.

Mặc dù các nghiên cứu đã chỉ ra nhiều nhóm nhân tố ảnh hưởng đến ý định quyết định ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp của nông hộ nhưng chưa phân biệt giữa các biến trong mỗi loại nhân tố. Emanuele Pierpaolia, Giacomo Carlia , Erika Pignattia và Maurizio Canavari (2013) trong nghiên cứu ―Drivers of Precision Agriculture Technologies Adoption: A Literature Review‖ [41], (tạm dịch: Các động lực của việc ứng dụng công nghệ chính xác trong nông nghiệp: Tổng quan tài liệu); Feder, G. ―Adoption of agricultural innovations in developing countries: A survey‖ [47], (tạm dịch: Áp dụng các đổi mới nông nghiệp ở các nước đang phát triển: Một cuộc khảo sát); Ashari, Handewi P. Maulana, Ening Ariningsih, Kartika Sari Septanti (2020).

―The Determinants of Sustainable agricultural technology adoption‖ [9], (tạm dịch: Các yếu tố quyết định việc áp dụng công nghệ nông nghiệp bền vững) các nghiên cứu đã giải thích ý định ứng luan an 14 dụng công nghệ trong nông nghiệp liên quan đến các đặc điểm và tài sản cá nhân, thông tin không hoàn hảo, rủi ro, sự không chắc chắn, các ràng buộc về thể chế, tính sẵn có của đầu vào và cơ sở hạ tầng. Nghiên cứu này đã tổng hợp được nhiều công trình có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, tùy vào từng lĩnh vực sản xuất và đặc điểm của từng địa bàn nghiên cứu. Điều này tạo thuận lợi cho nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để củng cố các giả thuyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở Cần Thơ" của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Đinh Thị Nga, tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến việc áp dụng công nghệ cao trong ngành nuôi cá tra tại Cần Thơ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của ngành nuôi cá tra mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc ứng dụng công nghệ cao, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức cải thiện quy trình nuôi cá, cũng như các chính sách cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp các phương pháp khuyến nông có thể áp dụng trong nuôi trồng thủy sản, hay Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp, bao gồm cả nuôi cá. Cuối cùng, Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng là một tài liệu thú vị, cung cấp cái nhìn về ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, có thể liên quan đến việc cải thiện sức khỏe và năng suất trong nuôi trồng thủy sản.