Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 9340410) của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa, do PGS. TS. Đinh Thị Nga hướng dẫn tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2023), mang tiêu đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở Thành phố Cần Thơ".

Về tính cấp thiết, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vị trí trung tâm trong nuôi trồng thủy sản của cả nước, chiếm khoảng 71% tổng diện tích nuôi trồng giai đoạn 2015–2021, trong đó ngành hàng cá tra chiếm 100% sản lượng cá tra quốc gia và đứng thứ 8 trong danh mục các loài cá nước ngọt có sản lượng lớn trên thế giới theo số liệu của Tổ chức Lương Nông Liên Hợp quốc (FAO, 2022). Thành phố Cần Thơ là địa phương đứng thứ 3 tại ĐBSCL về diện tích nuôi cá tra (sau Đồng Tháp và An Giang), chiếm 15,2% diện tích toàn vùng. Tính đến đầu năm 2022, diện tích lũy kế nuôi cá tra tại Cần Thơ đạt 607 ha, chiếm hơn 19% diện tích nuôi thủy sản nhưng đóng góp trên 90% sản lượng thủy sản nuôi trồng của thành phố. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ cao (CNC) tại các nông hộ còn chậm; tỷ lệ nông hộ ứng dụng chỉ đạt trên 30% và phần lớn chỉ áp dụng đơn lẻ từng khâu, chưa đồng bộ toàn chu trình. Ngành hàng đang đối mặt với các điểm nghẽn kỹ thuật như hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) còn cao (1,55–1,57), tỷ lệ sống dao động 71,4–76,1%, chi phí sản xuất từ 24.800 đồng/kg, cùng áp lực chi phí đầu tư ban đầu lớn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp công nghệ cao và kỹ thuật nuôi cá tra, nhưng chưa có công trình nào đo lường mang tính thực nghiệm và kiểm định định lượng hệ thống các nhân tố tác động đến ý định ứng dụng CNC của các nông hộ nuôi cá tra, đặc biệt tại địa bàn trọng điểm như Thành phố Cần Thơ, nhằm cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định ứng dụng CNC trong nuôi cá tra của nông hộ tại Thành phố Cần Thơ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý kinh tế nhằm khuyến khích nông hộ gia tăng ứng dụng CNC đến năm 2030, định hướng đến năm 2040.

Luận án thực hiện bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan về ứng dụng CNC trong nông nghiệp dựa trên tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước.
  2. Xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định ứng dụng CNC trong nuôi cá tra của hộ nuôi tại Thành phố Cần Thơ, thiết kế và khảo sát thử nghiệm để hoàn thiện bảng hỏi.
  3. Phân tích thực trạng và kiểm định mô hình nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng cùng mức độ tác động đến ý định ứng dụng CNC của nông hộ.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nông hộ ứng dụng CNC trong nuôi cá tra tại Thành phố Cần Thơ phục vụ phát triển bền vững ngành hàng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng CNC trong nuôi cá tra của nông hộ tại Thành phố Cần Thơ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào khâu nuôi cá thương phẩm của các nông hộ (không bao gồm khâu ương dưỡng giống và các doanh nghiệp chế biến), tiếp cận dưới góc độ ý định hành vi của chủ hộ nuôi theo lý thuyết hành vi.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn các quận, huyện có hoạt động nuôi cá tra thuộc Thành phố Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2011–2020; dữ liệu sơ cấp điều tra khảo sát thực hiện trong năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu liên quan theo bốn nhóm chủ đề chính:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về vị trí, vai trò của công nghệ và ứng dụng CNC trong nông nghiệp: Các nghiên cứu quốc tế như Bonabana-Wabbi (2002), Loevinsohn và cộng sự (2013), Challa (2013), Ravallion và Chen (2004), Jain (2009) đã chứng minh vai trò của tiến bộ công nghệ trong việc nâng cao sản lượng, cải thiện tỷ lệ đầu vào - đầu ra, giảm chi phí trung bình và hỗ trợ giảm nghèo nông thôn. Trong nước, các công trình của Đỗ Xuân Trường và Lê Thị Thu (2010), Nguyễn Văn Lân (2013), Phạm Sanh (2014), Nguyễn Thành Hưng (2017), Trần Quốc Khánh và Hoàng Thị Thu Hà (2017) khẳng định ứng dụng khoa học công nghệ là phương thức tất yếu để sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, nâng cao chất lượng nông sản và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp:

  • Vốn con người: Feder (1982), Clay và cộng sự (1998), Fernandez-Cornejo (2007), Keelan và cộng sự (2010), Mignouna và cộng sự (2011), Adebiyi (2013), Vũ Đậu (2017), Công Phiên (2018) chỉ ra trình độ học vấn, độ tuổi và kinh nghiệm có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu và ứng dụng kỹ thuật mới.
  • Vốn tài chính: Kabwe và Donovan (2005), Yu Liong và Lan Qinggao (2006), Teklewold và cộng sự (2013), Võ Trí Thành (2017), Phạm Thị Huyền (2019), Trần Lệ Phương (2021) nhấn mạnh rào cản chi phí đầu tư ban đầu, thu nhập ngoài nông nghiệp và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng.
  • Vốn xã hội: Coleman (1988), Fukuyama (1995), Isham (2002), Chirwa (2005), Bandiera và Rasul (2006), Wollni và cộng sự (2010), Nyangena (2011), Genius và cộng sự (2013) phân tích vai trò của mạng lưới liên kết cộng đồng, niềm tin và trao đổi thông tin kỹ thuật.
  • Điều kiện canh tác và kết cấu hạ tầng: Nguyễn Đình Bồng (2013), Nguyễn Ninh Tuấn (2013), Trần Đức Viên (2017), Trường Giang (2019), Hồ Thị Thu Hòa và cộng sự (2019), VCCI và Fulbright (2020) chỉ ra diện tích đất đai tập trung, nguồn nước và hệ thống giao thông - logistics là nền tảng bắt buộc.
  • Chính sách và dịch vụ khuyến nông: Rogers (2003), Pananond (2006), Brown và Ratna (2013), Teklewold và cộng sự (2013), Lê Đăng Lăng và Lê Tấn Bửu (2014), Nguyễn Bạch Nguyệt và Trần Thu Hà (2017), Từ Quang Phương (2017).
  • Yếu tố thị trường: Neill và Lee (2001), Pretty và cộng sự (2011), Nguyễn Hữu Nhơn (2016), Đường Huyền Trang (2020), Thy Lê (2020), Phạm Thị Huyền (2019) phân tích tác động của thị trường vật tư đầu vào và sự ổn định của đầu ra nông sản.
  • Các nghiên cứu tổng hợp đa nhân tố tại Việt Nam: Trương Thị Ngọc Chi (2014) về lúa gạo ĐBSCL, Quan Minh Nhựt và Huỳnh Thanh Tùng (2015) về doanh nghiệp nông nghiệp Cần Thơ, Đinh Phi Hổ và cộng sự (2018) về nông nghiệp bền vững ĐBSCL.

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về ngành hàng cá tra và công nghệ nuôi cá tra: Huỳnh Trường Huy và cộng sự (2009) về nuôi cá tra tự phát; Lê Nguyễn Đoan Khôi (2014) về thâm nhập thị trường cá tra; Nguyễn Văn Thuận và Võ Thành Danh (2014) về phân phối thu nhập chuỗi và giá thành; Nguyễn Thanh Phương và Nguyễn Anh Tuấn (2016) cùng Nguyễn Thanh Phương (2022) về thực trạng và định hướng phát triển bền vững cá tra ĐBSCL; Phạm Thị Thu Hồng (2017) về giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả tài chính; Phạm Trường Yên (2022) về nhu cầu hợp tác khoa học công nghệ cá tra tại Cần Thơ.

Thứ tư, nhóm nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn: Các báo cáo kinh nghiệm quốc tế tại Israel (Danielle Abraham và cộng sự, 2019; Abigail Klein Leichman, 2019; Trương Huyền, 2019), kinh nghiệm các địa phương trong nước như Lâm Đồng (Võ Thị Hảo, 2019), Tiền Giang, Long An, Đắk Nông (Lê Đăng Lăng, 2019).

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án kế thừa các lý thuyết hành vi và khung phân tích nguồn lực sinh kế để mô hình hóa và kiểm định thống kê mức độ tác động của từng nhóm nhân tố (vốn con người, vốn tài chính, vốn xã hội, điều kiện ao nuôi, chính sách, nhận thức tính hữu ích, thị trường, phương thức truyền thống) tới ý định ứng dụng CNC của nông hộ nuôi cá tra tại Thành phố Cần Thơ, thiết lập căn cứ thực chứng cho quản lý kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên các lý thuyết hành vi cá nhân và quản lý kinh tế:

  1. Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Ajzen & Fishbein, 1975): Giải thích ý định hành vi xuất phát từ thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan.
  2. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen, 1991): Mở rộng từ TRA bằng việc bổ sung nhân tố "Nhận thức kiểm soát hành vi", phản ánh mức độ thuận lợi hay khó khăn khi tiếp cận nguồn lực để thực hiện hành vi.
  3. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM & TAM2 - Davis, 1989; Venkatesh & Davis, 2000): Tập trung vào hai biến nhận thức cốt lõi là "Nhận thức tính hữu ích" (Perceived Usefulness - PU) và "Nhận thức tính dễ sử dụng" (Perceived Ease of Use - PEU).
  4. Khung sinh kế bền vững (DFID): Xem xét các nguồn lực sinh kế của nông hộ (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội).
  5. Khung pháp lý về nông nghiệp CNC: Luật Công nghệ cao năm 2008 (Luật số 21/2008/QH12) và Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định các nhóm công nghệ gồm: công nghệ sinh học; kỹ thuật canh tác, nuôi trồng thâm canh/siêu thâm canh, xử lý môi trường; công nghệ tự động hóa, bán tự động; và công nghệ sản xuất vật tư nông nghiệp.
Nhóm nhân tố trong mô hình Thành phần thang đo và biến quan sát Cơ sở lý thuyết kế thừa
Vốn con người Trình độ văn hóa, độ tuổi, số năm kinh nghiệm nuôi cá, số lao động chính trong hộ TPB (Ajzen, 1991); Khung sinh kế DFID; Feder (1982)
Vốn tài chính Vốn tự có, thu nhập ngoài nghề nuôi cá, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng Khung sinh kế DFID; Teklewold và cộng sự (2013)
Vốn xã hội Tham gia các tổ chức hội đoàn thể, mạng lưới quan hệ với doanh nghiệp chế biến và thương lái, chia sẻ kỹ thuật Coleman (1988); Isham (2002); Đinh Phi Hổ và cộng sự (2018)
Điều kiện ao nuôi Diện tích mặt nước ao nuôi, tính ổn định nguồn nước cấp/thoát, hạ tầng giao thông - điện Khung sinh kế DFID; Kassie và cộng sự (2013)
Chính sách hỗ trợ Công tác quy hoạch vùng nuôi, tập huấn khuyến nông, chính sách chuyển giao công nghệ, hỗ trợ lãi suất Genius và cộng sự (2013); Rogers (2003)
Nhận thức tính hữu ích Đánh giá về khả năng tăng năng suất, giảm hệ số FCR, kiểm soát dịch bệnh, nâng cao giá trị cá phẩm TAM (Davis, 1989); Venkatesh và Davis (2000)
Yếu tố thị trường Tiếp cận thị trường cung ứng vật tư thiết bị CNC, tính ổn định của hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra Neill & Lee (2001); Phạm Thị Huyền (2019)
Phương thức truyền thống Mức độ phụ thuộc vào kinh nghiệm nuôi truyền thống, tâm lý ngại thay đổi quy trình canh tác cũ TRA (Ajzen & Fishbein, 1975); TPB (Ajzen, 1991)
Ý định ứng dụng CNC Mức độ sẵn sàng đầu tư, kế hoạch chuyển đổi kỹ thuật nuôi trong các vụ tiếp theo (Biến phụ thuộc) TPB (Ajzen, 1991); TAM (Davis, 1989)

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng theo quy trình 6 bước:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Thực hiện rà soát tài liệu kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia bao gồm cán bộ quản lý thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Cần Thơ, Chi cục Thủy sản Cần Thơ, các nhà khoa học thuộc Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ và đại diện một số doanh nghiệp nuôi, chế biến cá tra. Mục tiêu nhằm điều chỉnh mô hình lý thuyết, hoàn thiện câu chữ và nội dung các biến quan sát trong bảng hỏi khảo sát thử nghiệm.
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra bảng hỏi cấu trúc trực tiếp tại các hộ nuôi cá tra trên địa bàn các quận, huyện của Cần Thơ. Quy trình phân tích số liệu trên phần mềm chuyên dụng bao gồm:
    1. Thống kê mô tả đặc trưng mẫu khảo sát (tuổi tác, học vấn, diện tích, kinh nghiệm, lao động).
    2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha.
    3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các biến độc lập và biến phụ thuộc để kiểm tra giá trị hội tụ và phân biệt.
    4. Phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đến biến phụ thuộc "Ý định ứng dụng CNC vào nuôi cá tra của nông hộ".
    5. Kiểm định ANOVA và phân tích sự khác biệt giữa các nhóm đặc trưng nhân khẩu học (độ tuổi, trình độ học vấn, quy mô diện tích ao nuôi, số năm kinh nghiệm) với ý định ứng dụng CNC.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo niên giám thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cần Thơ, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Tổng cục Thủy sản giai đoạn 2011–2020. Dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2021 từ các nông hộ nuôi cá tra trên địa bàn Thành phố Cần Thơ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về 4 nhóm nội dung: vai trò của CNC trong nông nghiệp; các nhân tố tác động đến việc chấp nhận công nghệ của nông hộ; tình hình sản xuất và kỹ thuật ngành hàng cá tra tại ĐBSCL; kinh nghiệm phát triển nông nghiệp CNC tại Israel, Lâm Đồng, Tiền Giang, Long An, Đắk Nông. Tác giả đánh giá những thành tựu đã đạt được của các nghiên cứu trước, đồng thời chỉ ra khoảng trống về sự thiếu hụt các nghiên cứu định lượng đánh giá cụ thể tác động của các nhóm nhân tố nguồn lực sinh kế và thể chế đến ý định ứng dụng CNC trong nuôi cá tra tại Cần Thơ làm căn cứ xây dựng đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

Chương 2 hệ thống hóa các khái niệm về công nghệ cao theo chuẩn OECD, Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Luật Công nghệ cao Việt Nam năm 2008 và Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN; làm rõ 4 nhóm tiêu chí nông nghiệp CNC (kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường) và 4 đặc điểm cốt lõi (vốn đầu tư lớn, kiểm soát quy trình chặt chẽ và tự động hóa cao, hiệu quả kinh tế vượt trội, gắn kết kinh tế với bảo vệ môi trường). Tác giả phân tích các lý thuyết nền tảng TRA, TPB, TAM, TAM2, Khung sinh kế bền vững DFID, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa 8 nhóm nhân tố độc lập với ý định ứng dụng CNC của nông hộ.

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương này chi tiết hóa quy trình nghiên cứu 6 bước từ xác định mục tiêu, tổng quan tài liệu, thiết kế bảng hỏi, thu thập dữ liệu sơ cấp/thứ cấp đến phân tích dữ liệu. Tác giả trình bày kết quả nghiên cứu định tính qua phỏng vấn chuyên gia để hiệu chỉnh thang đo; xác định quy mô mẫu điều tra và phương pháp chọn mẫu phân tầng tại các quận, huyện có vùng nuôi cá tra của Cần Thơ; xác lập bảng thang đo chính thức gồm các biến quan sát đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ cùng các kỹ thuật thống kê (Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy tuyến tính, ANOVA).

Chương 4: Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở thành phố Cần Thơ

Chương 4 khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sản xuất cá tra Cần Thơ giai đoạn 2016–2020 (diện tích lũy kế đầu năm 2022 là 607 ha, sản lượng đóng góp trên 90% sản lượng thủy sản thành phố). Chương phân tích kết quả định lượng:

  • Thống kê mô tả đặc trưng mẫu khảo sát: độ tuổi, học vấn, diện tích ao, số năm nuôi, lao động.
  • Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ.
  • Kết quả hồi quy tuyến tính bội xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố: Vốn tài chính, Nhận thức tính hữu ích, Chính sách hỗ trợ, Vốn con người, Vốn xã hội, Điều kiện ao nuôi, Yếu tố thị trường có tác động cùng chiều (+); trong khi Phương thức sản xuất truyền thống có tác động ngược chiều (-) đến ý định ứng dụng CNC.
  • Kiểm định ANOVA làm rõ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định ứng dụng CNC giữa các nhóm nông hộ có trình độ học vấn, độ tuổi, diện tích ao nuôi và số năm kinh nghiệm khác nhau.

Chương 5: Định hướng và giải pháp khuyến khích nông hộ ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra ở thành phố Cần Thơ

Chương 5 xác định quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển vùng nuôi cá tra CNC của Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn 2040. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý kinh tế gắn liền với kết quả kiểm định mô hình:

  1. Nhóm giải pháp về vốn và tài chính: Mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay/hạ tầng ao nuôi CNC.
  2. Nhóm giải pháp về chính sách và khuyến nông: Rà soát quy hoạch vùng nuôi tập trung CNC, tổ chức các lớp tập huấn đầu bờ (FFS), hỗ trợ chuyển giao công nghệ tự động hóa cho ăn, quan trắc môi trường và xử lý tuần hoàn nước.
  3. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức và vốn con người: Đào tạo kỹ thuật số, kỹ năng quản lý trang trại hiện đại cho chủ hộ và lao động trực tiếp.
  4. Nhóm giải pháp phát triển thị trường và chuỗi liên kết: Thúc đẩy hợp đồng liên kết tiêu thụ giữa nông hộ với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, ổn định giá vật tư đầu vào.
  5. Nhóm giải pháp hoàn thiện hạ tầng và điều kiện vùng nuôi: Nâng cấp hệ thống giao thông thủy lợi, điện 3 pha và cấp thoát nước đồng bộ tại các quận, huyện nuôi cá tra tập trung.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về ứng dụng CNC trong nuôi trồng thủy sản, tích hợp thành công Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và Khung sinh kế bền vững (DFID) vào bối cảnh nghiên cứu hộ nông dân nuôi cá tra.
  • Xây dựng và kiểm định thành công hệ thống thang đo đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định ứng dụng CNC của nông hộ, bao gồm cả các yếu tố nội sinh thuộc nguồn lực nông hộ (vốn con người, vốn tài chính, vốn xã hội, điều kiện ao nuôi) và các yếu tố ngoại sinh từ môi trường quản lý (chính sách hỗ trợ, thị trường, nhận thức công nghệ, thói quen sản xuất truyền thống).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng và rào cản ứng dụng CNC trong nuôi cá tra tại Cần Thơ; lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố tới ý định của người nuôi.
  • Chứng minh bằng kiểm định thống kê rằng hạn chế về vốn tài chính, sự thiếu hụt thông tin kỹ thuật và thói quen canh tác truyền thống là những trở ngại chính khiến tỷ lệ ứng dụng CNC ở nông hộ chưa đạt kỳ vọng (>30%).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý kinh tế đồng bộ, có cơ sở khoa học cho Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản trong việc xây dựng chính sách khuyến khích nông hộ ứng dụng công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học và quản lý môi trường ao nuôi đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở khâu nuôi cá tra thương phẩm tại các nông hộ, chưa mở rộng phân tích các khâu khác trong chuỗi giá trị như sản xuất giống nhân tạo, chế biến thức ăn hay công đoạn chế biến xuất khẩu của doanh nghiệp.
  • Về không gian và đối tượng: Khảo sát thực nghiệm chỉ giới hạn trên địa bàn Thành phố Cần Thơ và chỉ thu thập ý kiến của các nông hộ cá thể, chưa bao hàm các hợp tác xã quy mô lớn hay doanh nghiệp nuôi trồng trực tiếp.
  • Về phương pháp: Nghiên cứu dừng lại ở việc đo lường "ý định hành vi" của nông hộ, chưa theo dõi dọc sự chuyển biến từ ý định sang hành vi đầu tư thực tế trong dài hạn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát liên tỉnh tại các vùng nuôi cá tra trọng điểm của ĐBSCL như Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre để so sánh sự khác biệt về thể chế và chính sách địa phương.
  • Mở rộng phân tích đa chủ thể trong toàn chuỗi giá trị ngành hàng cá tra (từ cơ sở sản xuất giống, cung ứng thức ăn, thuốc thú y thủy sản đến nhà máy chế biến xuất khẩu).
  • Thực hiện nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal study) để đánh giá sự chuyển đổi thực tế từ ý định sang hành vi ứng dụng CNC sau khi các chính sách hỗ trợ tín dụng và khuyến nông mới được ban hành.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Thành phố Cần Thơ và các tỉnh vùng ĐBSCL sử dụng các kết quả hồi quy và kiến nghị chính sách để xây dựng đề án hỗ trợ nông nghiệp công nghệ cao, quy hoạch vùng nuôi thủy sản tập trung và thiết kế gói tín dụng ưu đãi.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh và Phát triển nông thôn có thể tham khảo khung lý thuyết tích hợp (TPB, TAM, Livelihood Framework), quy trình thiết kế bảng hỏi và phương pháp phân tích định lượng (EFA, hồi quy, ANOVA).
  • Các tổ chức hợp tác xã, doanh nghiệp và nông hộ nuôi cá tra: Tham khảo các chỉ tiêu kỹ thuật - kinh tế, yêu cầu vốn đầu tư và quy trình kiểm soát rủi ro dịch bệnh khi chuyển đổi từ nuôi truyền thống sang quy trình công nghệ cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Thực trạng ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra tại Thành phố Cần Thơ giai đoạn nghiên cứu diễn ra như thế nào?

Theo số liệu trong luận án, Cần Thơ có diện tích nuôi cá tra đứng thứ 3 tại ĐBSCL (chiếm 15,2% diện tích toàn vùng), với diện tích lũy kế đầu năm 2022 là 607 ha, đóng góp trên 90% sản lượng thủy sản nuôi của thành phố. Tuy nhiên, tỷ lệ nông hộ ứng dụng CNC còn thấp (trên 30%), chủ yếu áp dụng cục bộ từng khâu kỹ thuật mà chưa đồng bộ toàn chu trình. Ngành hàng gặp khó khăn do hệ số tiêu tốn thức ăn FCR còn cao (1,55–1,57), tỷ lệ sống chỉ đạt 71,4–76,1% dẫn đến giá thành sản xuất cao (từ 24.800 đồng/kg), trong khi vốn đầu tư hạ tầng nuôi CNC rất lớn (ước tính trên 3 tỷ đồng/ha).

2. Luận án đã kết hợp những mô hình lý thuyết nào để xây dựng khung phân tích?

Tác giả đã kết hợp bốn nền tảng lý thuyết chính: Thuyết hành động hợp lý (TRA của Ajzen & Fishbein, 1975), Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB của Ajzen, 1991), Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM/TAM2 của Davis và cộng sự, 1989, 2000) và Khung sinh kế bền vững (DFID), cùng các quy định tại Luật Công nghệ cao 2008 và Quyết định 738/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

3. Mô hình nghiên cứu của luận án gồm những nhóm nhân tố độc lập nào?

Mô hình nghiên cứu chính thức bao gồm 8 nhóm nhân tố: (1) Vốn con người, (2) Vốn tài chính, (3) Vốn xã hội, (4) Điều kiện ao nuôi, (5) Yếu tố chính sách và sự hỗ trợ của chính quyền, (6) Nhận thức về tính hữu ích của CNC, (7) Yếu tố thị trường, và (8) Phương thức sản xuất truyền thống.

4. Chi phí đầu tư ứng dụng công nghệ cao trong nuôi cá tra được luận án ước tính là bao nhiêu?

Dẫn chứng từ mô hình nuôi thí điểm tại Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ, luận án ghi nhận với một ao nuôi 320 m² áp dụng hệ thống sục khí oxy, lắng lọc sinh học và tuần hoàn nước khép kín, chi phí đầu tư đã lên tới khoảng 1,2 tỷ đồng. Từ đó, luận án ước tính chi phí đầu tư hoàn chỉnh cho 1 ha ao nuôi cá tra theo mô hình ứng dụng CNC đạt mức trên 3 tỷ đồng.

5. Những giải pháp trọng tâm nào được luận án đề xuất nhằm khuyến khích nông hộ ứng dụng công nghệ cao đến năm 2030?

Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ: (1) Hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn vay tín dụng ưu đãi và cơ chế thế chấp bằng tài sản ao nuôi CNC; (2) Nâng cấp hạ tầng vùng nuôi tập trung và đẩy mạnh khuyến nông, tập huấn chuyển giao kỹ thuật đầu bờ (FFS); (3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông hộ; (4) Tăng cường liên kết chuỗi giá trị và hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu; (5) Đẩy mạnh chuyển giao các công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học và quan trắc môi trường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đối với ngành thủy sản Thành phố Cần Thơ nói riêng và ĐBSCL nói chung. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng chặt chẽ, luận án đã xác định và đo lường thành công mức độ tác động của 8 nhóm nhân tố nguồn lực sinh kế và thể chế đến ý định ứng dụng công nghệ cao của nông hộ nuôi cá tra. Các kết quả kiểm định thực nghiệm và hệ thống 5 nhóm giải pháp quản lý kinh tế được đề xuất trong luận án là cơ sở tham khảo khoa học có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương và các nhà nghiên cứu trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao bền vững giai đoạn đến năm 2030.