MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, sự phát triển không ngừng của các ngành sản xuất công nghiệpvà nông nghiệp,cuộc sống sinh hoạt của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao. Song song với sự phát triển đó, môi trƣờng đang có nguy cơ bị ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó có sự ô nhiễm các kim loại nặng nhƣ Cu2+, Pb2+, Cd2+, Hg2+, …Việc phân tích lƣợng vết của chúng trong các đối tƣợng môi trƣờng là điều cần thiết. Có nhiều phƣơng pháp phân tích có khả năng đáp ứng nhiệm vụ đó nhƣ phƣơng pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), quang phổ phát xạ nguyên tử (AES), quang phổ phát xạ nguyên tử plasma (ICP-AES), các phƣơng pháp điện hóa hiện đại nhƣ phƣơng pháp von ampe hòa tan (SV), phƣơng pháp von ampe hòa tan hấp phụ (AdSV)… Các phƣơng pháp von ampe hòa tan có độ nhạy và độ chọn lọc cao, giới hạn phát hiện thấp (10-8 ÷10-9M), giá thành không cao, vì vậy chúng đƣợc ứng dụng nhiều trong phân tích vết các kim loại. Phƣơng pháp von ampe hòa tan anot có khả năng xác định đƣợc đồng thời nhiều kim loại có khả năng tạo hỗn hống với thủy ngân nhƣ Cu2+, Pb2+, Cd2+, Zn2+, Sn2+…[114].
Trong thời gian gần đây, phƣơng pháp von ampe hòa tan hấp phụ (AdSV) đã phát triển, có thể phân tích đƣợc trên 60 kim loại, trong đó có những kim loại rất khó xác định theo phƣơng pháp von ampe hòa tan anot (ASV) hay von ampe hòa tan catot (CSV), nhƣ: Hg2+, Pt2+, Ni2+, Co2+, Cr2+,.và một số chất hữu cơ [114]. Với việc lựa chọn các thuốc thử và điều kiện phân tích phù hợp, phƣơng pháp AdSV đã nâng cao độ nhạy và độ chọn lọc, có thể ứng dụng rất hiệu quả trong phân tích vết. Trong phƣơng pháp von ampe hòa tan, lựa chọn và sử dụng điện cực rất quan trọng. Hiện nay, đa số các nghiên cứu về phƣơng pháp SV đều sử dụng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điện cực thủy ngân nhƣ điện cực giọt thủy ngân treo (HMDE), điện cực giọt thủy ngân tĩnh (SMDE), hay điện cực màng thủy ngân trên đĩa rắn trơ (MFE) do những đặc tính điện hóa ƣu việt của thủy ngân nhƣ có khả năng tạo hỗn hống với các kim loại, có khả năng hấp phụ điện hóa và hóa học.
Tuy nhiên, do thủy ngân có độc tính cao, ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời, nên hiện nay các nhà nghiên cứu tìm kiếm các vật liệu ít độc hại để làm điện cực làm việc. Các vật liệu khác nhau đã đƣợc nghiên cứu sử dụng chế tạo điện cực nhƣ vàng [35], bạc [34, 35, 122], than mềm [5, 7, 112], điện cực màng bismut [4, 6, 8, 45, 58, 59, 70, 73]. và điện cực biến tính giữa vật liệu than mềm hoặc graphit với các hợp chất nhƣ zeolit [31], diacetyldioxim [61], chitosan [68], bismut [72], diphenylthiocarbazon [85], 1,4-bis (prop-2- enyloxy)-9,10-anthraquinon [87], Sn[Fe(CN)6] [96],. Gần đây, có một số nghiên cứu đề xuất điện cực biến tính bởi oxit thủy ngân [9- 11, 13, 66, 80, 102].
Ƣu điểm lớn nhất của loại điện cực này là không dùng thủy ngân theo lối thông thƣờng, mà quá trình tạo lớp thủy ngân trên bề mặt điện cực làm việc do quá trình khử oxit thủy ngân, do đó không gây ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng, dễ chế tạo, dễ làm sạch, có thể thực hiện quá trình phân tích ngoài hiện trƣờng. Vì vậy đây là loại điện cực có tiềm năng ứng dụng tốt cho phƣơng pháp von ampe hòa tan. Ở nƣớc ta, chƣa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này. Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi chọn đề tài này với mục đích góp phần nghiên cứu chế tạo một loại điện cực mới mang đặc tính điện hóa của thủy ngân, sử dụng cho phƣơng pháp ASV và AdSV, áp dụng nó để xác định lƣợng vết các kim loại nặng nhƣ Cu2+, Pb2+, Cd2+, Zn2+.
trong một số đối tƣợng môi trƣờng. Để thực hiện nhiệm vụ của luận án, chúng tôi cần giải quyết các nội dung sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chế tạo điện cực paste cacbon biến tính bởi oxit thủy ngân (HgO- MCPE), khảo sát đặc điểm điện hóa và độ bền của điện cực. Khảo sát khả năng sử dụng điện cực cho phƣơng pháp ASV và AdSV xác định lƣợng vết Cu2+, Pb2+, Cd2+, Zn2+.
Áp dụng phƣơng pháp ASV và AdSV sử dụng điện cực HgO- MPCE để phân tích Cu2+, Pb2+, Cd2+, Zn2+ trong một số mẫu thực tế và đƣa ra quy trình phân tích. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I TỔNG QUAN 1. PHƢƠNG PHÁP VON AMPE HÕA TAN 1. Nguyên tắc Quá trình phân tích theo phƣơng pháp von-ampe hòa tan gồm ba giai đoạn [18], [114], [115]: + Giai đoạn làm giàu: Làm giàu chất cần phân tích lên bề mặt điện cực dƣới dạng một kết tủa (kim loại, hợp chất khó tan) trong một điều kiện nhất đị nh (ở một thế cố định và một thời gian xác định).
Dung dịch đƣợc khuấy trong suốt quá trình điện phân bằng khuấy từ, que khuấy hoặc điện cực quay. + Giai đoạn ổn định: Sau khi điện phân thƣờng ngừng khuấy dung dịch 3-5 s để cho kim loại phân bố đều trên bề mặt điện cực. + Giai đoạn hòa tan: Hòa tan kết tủa làm giàu và ghi đƣờng hòa tan bằng cách phân cực ngƣợc và ghi đƣờng von-ampe hòa tan. Nếu điện phân là quá trình khử catot ở thế không đổi (Eđp) thì khi hòa tan có thế quét với tốc độ không đổi và đủ lớn (50 - 100mV/giây hoặc lớn hơn), từ giá trị Eđp về phía các giá trị dƣơng hơn.
Trong trƣờng hợp này quá trình hòa tan là quá trình anot và phƣơng pháp phân tích gọi là von-ampe hòa tan anot (ASV). Ngƣợc lại nếu điện phân là quá trình oxi hóa anot chất phân tích để kết tủa nó trên bề mặt cực, thì quá trình phân cực hòa tan là quá trình catot và gọi là phƣơng pháp von-ampe hòa tan catot (CSV). Khi quá trình làm giàu là quá trình hấp phụ, ngƣời ta gọi tên phƣơng pháp là von ampe hòa tan hấp phụ (AdSV), trong đó kim loại cần phân tích làm giàu bằng cách hấp phụ điện hoá phức của nó với phối tử hữu cơ trên bề mặt điện cực làm việc. Sau đó quét thế theo một chiều nào đó khử hoặc oxy hoá phức tích tụ trên bề mặt điện cực và ghi tín hiệu đƣờng hòa tan hấp phụ của quá trình này.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đƣờng von ampe hòa tan thu đƣợc có dạng pic. Thế đỉnh pic (EP) và cƣờng độ dòng hòa tan (IP) phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ nền điện ly, pH dung dịch, bản chất của chất phân tích và nồng độ chất, điện cực làm việc, điều kiện đo,vv. Trong điều kiện đo xác định, EP đặc trƣng cho bản chất điện hóa của chất phân tích, dựa vào EP có thể định tính các chất phân tích, còn IP tỷ lệ thuận với nồng độ chất phân tích trong dung dịch IP = k.C trong đó k là hệ số tỷ lệ, dựa vào việc đo cƣờng độ dòng hòa tan, có thể định lƣợng đƣợc các chất phân tích. Các kỹ thuật thƣờng đƣợc sử dụng để ghi tín hiệu von ampe hòa tan là kỹ thuật xung vi phân (DPP), kỹ thuật sóng vuông (SqW),… 1.
Các điện cực dùng trong phương pháp von ampe hòa tan Trong phƣơng pháp von-ampe hoà tan hấp phụ yêu cầu về điện cực làm việc rất quan trọng, quyết định độ nhạy và độ lặp lại của phép đo.Yêu cầu đặt ra là điện cƣ̣c có diện tí ch bề mặt không đổi , lặp lại trong tất cả các phép đo. Có một số loại điện cực làm việc đƣợc sƣ̉ dụng nhƣ: 1. Cực giọt Hg treo (HMDE) [18] Giọt Hg đƣợc treo ở cuối một capilar nhỏ, đƣờng kính giọt trong khoảng 0,15-0,5mm. Ở lỗ mao quản của cực có phủ một lớp chất kỵ nƣớc để Hg không bị đứt đoạn và dung dịch nƣớc không bị hút lên mao quản làm tắc và để giọt luôn có kích thƣớc lặp lại.
Trong suốt thời gian đo, kích thƣớc giọt không thay đổi. Sau mỗi lần đo, giọt thủy ngân bị cƣỡng bức rơi khỏi mao quản và một giọt mới đƣợc tạo thành, có kích thƣớc lặp lại nhƣ trƣớc. Ngoài ra, một loại điện cực tƣơng tự nhƣ HMDE là điện cực giọt thủy ngân tĩnh (SMDE) cũng đƣợc sử dụng. Hai loại điện cực này có ƣu điểm là khoảng thế hoạt động rộng (khoảng + 0,5V đến – 2,0V tuỳ môi trƣờng), có thể phân tích nhiều cation và anion, cho kết quả phân tích có độ nhạy, độ chính xác và độ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lặp lại cao.
Tuy nhiên các điện cực này không xác định đƣợc các ion kim loại có thế đỉnh pic dƣơng hơn Hg nhƣ Au3+, Ag+ và chính Hg2+, giá thành cao, trong quá trình sử dụng dễ bị tắc mao quản gây khó khăn cho phép phân tích, việc thu hồi Hg cũng phải đƣợc giám sát nghiêm ngặt do Hg là chất cực độc. Điện cực màng Hg Điện cực màng thủy ngân (MFE) đƣợc tạo thành bằng cách phủ lên trên bề mặt điện cực rắn đĩa một lớp màng mỏng thủy ngân. Các điện cực rắn này có thể làm bằng vật liệu than thủy tinh (Glassy cacbon) hay than mềm (Paste cacbon),… Màng đƣợc tạo bằng hai cách [118]: - Tạo màng trƣớc (ex-situ): điện cực MFE đƣợc tạo thành trƣớc khi phân tích bằng cách điện phân dung dịch Hg2+ có nồng độ cỡ 10-4 M đến 10- 5 M ở thế - 1000V (so với điện cực Ag/AgCl) trong thời gian nhất định (khoảng 5 phút), sau đó tráng rửa điện cực bằng nƣớc cất, rồi nhúng điện cực vào dung dịch cần phân tích. - Tạo màng đồng thời (in-situ): bằng cách cho vào dung dịch phân tích một lƣợng Hg(NO3)2 khoảng 10-5M.
Hg2+ dễ bị khử, tạo nên màng mỏng thuỷ ngân trên bề mặt cực, lƣợng vết các kim loại khác đƣợc hoà tan trong màng đó khi điện phân làm giàu. Khi trên bề mặt điện cƣ̣c có màng Hg hầu hết các kim loại bị hoà tan vào Hg tạo thành hỗn hống, hoặc các chất phân tí ch hấp phụ lên lớp màng Hg trên bề mặt điện cƣ̣c. Sử dụng điện cực màng Hg nâng cao độ nhạy và độ chọn lọc của phƣơng pháp von-ampe hoà tan rất nhiều. Một trong rất nhiều thí dụ về ƣu điểm của cực màng thuỷ ngân là việc xác định đồng thời các ion Zn2+, Cd2+, In3+, Pb2+ và Cu2+ với độ lặp lại và độ chính xác cao [2, 3,16, 25, 38, 46, 50].
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điện cực màng bismut Điện cực màng bismut (BiFE) đƣợc giới thiệu là một loại điện cực sử dụng khá hiệu quả trong trong phƣơng pháp von ampe hòa tan.