CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm a) Khái niệm về nông hộ Nông hộ là những hộ chuyên sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, làm kinh tế tổng hợp và một số hoạt động khác nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp) có tính tự sản xuất, do cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của mình. Đặc trưng của kinh tế nông nghiệp nước ta là mang tính tự cung, tự cấp và tự phát, tự túc, sản xuất manh mún thiếu tập trung và thiếu sự liên kết với nhau. b) Khái niệm,đặc điểm, phân loại vốn tín dụng trong nông nghiệp Vốn là của cải, là tài sản, được biểu hiện bằng phương tiện sản xuất, tư liệu sản xuất dùng vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đính cuối cùng là mang lại lợi nhuận tối đa.
Vốn được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và được chia thành: - Vốn cố định là những hình thức chuyển dịch dần vào từng bộ phận giá trị sản phẩm và hoàn thành trong vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng nó bao gồm: máy móc, nhà xưởng, công cụ cơ giới và máy móc thiết bị, vốn để cải tạo đất,… - Vốn lưu động là vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương, sản phẩm chế tạo, hàng hóa thành phẩm và tiền tệ…nó luân chuyển một lần vào giá trị sản phẩm cho đến khi nào nó chuyển thành tiền và chúng ta thu hoạch và thu hồi lại vốn thì nó hết một vòng tuần hoàn như: giống vật nuôi, cây trồng vật tư nông nghiệp…. Nguồn hình thành nguồn vốn trong nông nghiệp: - Nguồn vốn tự có như: tài sản, lợi nhuận, trích khấu hao,… - Nguồn vốn tín dụng như: vay tín dụng từ ngân hàng, vay từ các nguồn phi chính thức và tín dụng thương mại,… 6 - Nguồn vốn khác như: Qũy tài trợ, nguồn từ ngân sách nhà nước, từ các nhà tài trợ,… Khái niệm tín dụng Theo Lê Văn Tề [13], tín dụng (Credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh – Credittum – tức là sự tin tưởng, tín nhiệm hoặc là sự tin tưởng hoặc là tín nhiệm đó, hoặc vay mượn sự tin tưởng hoặc tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian. Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi hết hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn ban đầu, khoản giá trị lớn hơn này gọi là lợi tức tín dụng hay lãi vay. Nguyễn Đăng Dờn, 2009 [6] cũng cho rằng: (1) Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng tiền, tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác không làm thay đổi quyền sở hữu chúng.
(2) Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được hoàn trả. (3) Tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Hoạt động tín dụng sản xuất nông nghiệp là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho hộ sản xuất nông nghiệp. Phân loại tín dụng nông thôn Phân loại theo hình thức + Tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của Nhà nước.
Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của ngân hàng Nhà nước. Các nghiệp vụ hoạt động phải chịu sự quy định của luật Ngân hàng như sự quy định khung lãi suất, huy động vốn, cho vay,…và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp được. Các tổ chức tín dụng chính thức bao gồm các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phục vụ người nghèo, Quỹ tín dụng nhân dân, các chương trình trợ giúp của Chính phủ. 7 + Tín dụng phi chính thức là các hình thức tín dụng nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước.
Các hình thức này tồn tại khắp nơi và gồm nhiều nguồn cung vốn như cho vay chuyên nghiệp, thương lái cho vay, người thân, bạn bè, họ hàng, cửa hàng vật tư nông nghiệp, hụi…Lãi suất cho vay và những quy định trên thị trường này do người cho vay và người vay quyết định, trong đó, cho vay chuyên nghiệp là hình thức cho vay nặng lãi bị Nhà nước nghiêm cấm. Phân loại theo kỳ hạn Ngân Hàng Nhà nước, Quyết định số 1627/2001/QĐ, này 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Quy định phân loại tín dụng nông thôn thành ba loại cơ bản sau: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn + Tín dụng ngắn hạn Là loại tín dụng có thời hạn cho vay dưới 12 tháng. Đây là loại tín dụng phổ biến trong cho vay nông hộ ở nông thôn, các tổ chức tín dụng chính thức cũng thường cho vay loại này tương ứng với nguồn vốn là các khoản tiền gửi ngắn hạn.
Trong thị trường tín dụng nông thôn, các nông hộ vay nguồn này chủ yếu là sử dụng cho sản xuất như mua phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo đất đai,…Lãi suất của các khoản vay này thường thấp. + Tín dụng trung hạn Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Các nông hộ vay vốn loại này thường dùng cho việc mở rộng sản xuất, đầu tư phát triển nông nghiệp như mua giống vật nuôi cây trồng cho sản xuất nông nghiệp. Loại tín dụng này ít phổ biến trong thị trường tín dụng nông thôn so với tín dụng ngắn hạn.
+ Tín dụng dài hạn Hình thức tín dụng này chủ yếu dành cho các đối tượng nông hộ đầu tư sản xuất có quy mô lớn và kế hoạch sản xuất khả thi. Cho vay hình thức này rất ít ở thị trường nông thôn vì rủi ro cao. Thời hạn của tín dụng dài hạn trên 5 năm. 8 Vai trò của các định chế tín dụng nông thôn trong sản xuất nông nghiệp Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất.
Góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, thu hẹp sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị. Thúc đẩy xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đảm bảo cho người dân có điều kiện áp dụng các kỹ thuật công nghệ vào trong sản xuất. Góp phần tích lũy cho nền kinh tế. Gia tăng lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng.
Góp phần xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi ở nông nghiệp nông thôn. Cùng cả nước hoàn thành mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở nước ta, là cho bộ mặt nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại. Tạo công ăn, việc làm cho người dân góp phần giảm gánh nặng tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị, giải quyết được lượng lao động nhàn rỗi ở nông thôn. Khái niệm và đặc điểm của vốn tín dụng Vốn là một yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ.
Đã có nhiều nghiên cứu nói về tầm quan trọng của vốn, chẳng hạn như nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Trần Bá Duy 2008, nghiên cứu cho biết thực tế thiếu vốn đầu tư là nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập của hộ gia đình thấp. Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp và điều này lại là nguyên nhân của thiếu hụt vốn đầu tư và lại dẫn đến thu nhập thấp. Vốn sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng như: - Trong có cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật còn có nguồn gốc sinh học như: cây lâu năm, hàng năm, súc vật làm việc, sinh sản. Theo tính quy luật sinh học các tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với tư liệu có nguồn vốn kỹ thuật.
- Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp là cho sự tuần hoàn và luân chuyển nguồn vốn tín dụng chậm chạp kéo dài thời gian thu hồi vốn, nên 9 phải cần dự trữ một lượng vốn tương đối lớn trong thời gian dài làm cho nguồn vốn bị ứ động. - Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng vốn gặp nhiều rủi do, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng có thể chịu sự tác động chia phối bởi các yếu tố như: giá trị tài sản của nông hộ, diện tích đất mà nông hộ nắm giữ, giới tính chủ hộ, tuổi của chủ hộ, mức độ quen biết trong xã hội, mục đích sử dụng nguồn vốn tín dụng, thu nhập và chi tiêu bình quân trong hộ, số thành viên trong hộ và số người phụ thuộc trong hộ,. Mỗi yếu tố sẽ tác động khác nhau đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ.
Tùy vào đặc trưng của từng vùng, từng địa phương cách quản lý của chính quyền địa phương mà mỗi nhân tố sẽ tác động tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Cơ sở thực tiễn Đề tài xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín dụng chính thức và lượng vốn vay được của nông hộ ở huyện Tân Biên dựa trên việc thu thập thông tin thu thập từ bảng câu hỏi phỏng vấn của nông hộ. Để tìm hiểu thêm về đề tài này, những nghiên cứu trước đây về tín dụng được lược khảo và lướt qua về nội dung mà các tác giả trước đã thực hiện. Phần này trình bày những nghiên cứu thực nghiệm về những yếu tố tác động đến việc tiếp cận tín dụng và lượng vốn vay của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp.
Nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu của Nathan Okurut được thực hiện năm 2006 nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo và người da màu ở Nam Phi đối với thị trường tín dụng chính thức và phi chính thức. Bằng việc sử dụng mô hình Probit và mô hình Logit, tác giả chỉ ra rằng người nghèo và người da màu bị hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng này.