Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM 1. Các mô hình lý thuyết 1. Lý thuyết về nghèo đói 1. Các khái niệm về nghèo đói Nghèo luôn tồn tại như là một tất yếu tự nhiên trong mọi xã hội, cả ở những nơi mà trình độ phát triển kinh tế đã đạt đến mức độ cao như ở Mỹ, Tây Âu.
Ở các nước đang phát triển, đói nghèo là tình trạng khá phổ biến, nhất là khu vực nông thôn. Nghèo là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đa phương diện và không thuần túy chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù thước đo của nó trước hết và chủ yếu dựa vào thước đo về kinh tế được thể hiện qua chỉ số thu nhập hoặc tiêu dùng. Điều này có nghĩa nghèo không chỉ phản ánh sự thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu phương tiện sản xuất và sinh hoạt, mà còn phản ánh sự thiệt thòi trên bình diện sức khỏe, giáo dục. Những khía cạnh khác nhau của nghèo đói thể hiện tính đa phương diện của nó như: thu nhập, sức khỏe, giáo dục, nguy cơ bị tổn thương, thường tác động qua lại và hỗ trợ nhau.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. (Nguồn: Nguyễn Thị Cành, 2001) Trên thực tế không có một khái niệm duy nhất về nghèo, mà nghèo là một khái niệm có tính chất lịch sử vì nó thay đổi theo điều kiện kinh tế - xã hội theo từng thời kì và trong từng điều kiện cụ thể. Tình trạng nghèo luôn biến đổi và là tình trạng thiếu thốn trên nhiều phương diện. Khái niệm nghèo hiện nay không còn được tranh cãi nhiều và hầu như đã đi đến thống nhất, chỉ có sự khác nhau về phương pháp đo lường và đánh giá chuẩn nghèo giữa các tổ chức quốc tế, của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính phủ Việt Nam.Khái niệm nghèo hiện nay bao hàm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Đối tượng nghèo mà luận văn nghiên cứu tập trung vào những hộ dân cư là người nghèo tương đối ở quận 6 có mức thu nhập dưới mức chuẩn nghèo, thiếu vốn hoặc thiếu khả năng tiếp cận vốn và họ có nhu cầu vay vốn. - Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét. Khái niệm nghèo mà luận văn dùng để nghiên cứu tập trung vào nghèo tương đối và được đo lường bằng mức chuẩn nghèo chung do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề ra. Chuẩn nghèo chung bao gồm nghèo về lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được xác định dựa trên cơ sở: tổng chi phí bằng tiền đủ mua một lượng lương thực, thực phẩm cần thiết để đảm bảo năng lượng 2.100 ca-lo mỗi ngày cho một người, cộng với chi phí các mặt hàng như: nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, giáo dục, y tế, văn hoá…Mức chuẩn nghèo này khác nhau giữa nông thôn và thành thị và được tính cụ thể cho từng thời kỳ khác nhau.
Dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB) và chuẩn nghèo này, người nghèo ở đây được định nghĩa như sau: người nghèo là những người có mức thu nhập thấp và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng (gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủ 2.100 ca-lo/ngày) và có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét. Họ thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, đặc biệt họ thiếu khả năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của sự phát triển một cách có hiệu quả. Nhìn chung, những khía cạnh khác nhau của nghèo thường vận động cùng hướng với nhau, nếu một cá nhân nào đó nghèo về thu nhập thì sẽ làm hạn chế khả năng tiếp cận các dịch vụ như giáo dục, y tế, dẫn đến nghèo về giáo dục, y tế. Tuy nhiên khía cạnh này có thể vận động khác hướng với những khía cạnh khác, ví dụ tình trạng y tế có thể được cải thiện trong khi thu nhập lại giảm sút, hoặc một cá nhân nào đó nghèo về thu nhập nhưng lại không nghèo về sức khỏe.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Chuẩn nghèo của thế giới: - Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương (so với đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. * Chuẩn nghèo của Việt Nam: - Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Chính phủ Việt Nam đã điều chỉnh mức chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 300.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ 390.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 , bắt đầu từ ngày 1/1/2011, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. So với chuẩn nghèo thế giới là 2 USD/người/ngày thì chuẩn nghèo của Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá xa.
* Chuẩn nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh: 3 giai đoạn - Trước đây, của Thành phố Hồ Chí Minh xác định mức chuẩn nghèo là 3 triệu đồng. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Từ năm 2004 đến năm 2010, thành phố điều chỉnh mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người là 6.000 đồng/người/năm, chia làm 2 giai đoạn Bước 1, giai đoạn 2004-2005 nâng thu nhập bình quân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.000 đồng/người/năm (tương ứng 284USD/năm thấp hơn tiêu chuẩn 360 USD/năm của quốc tế). Bước 2, năm 2006-2010 nâng chuẩn thu nhập 6.000đồng/người/năm. - Giai đoạn năm 2009 đến năm 2015, thành phố điều chỉnh tương đương với mức chuẩn nghèo do Ngân hàng thế giới xác định (2 USD/người/ngày).
Với chuẩn nghèo mới này, thu nhập 500.000 đồng/tháng vẫn thuộc diện đói nghèo. Theo chuẩn nghèo mới này, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 12 triệu đồng/người/năm trở xuống, không phân biệt nội thành hay ngoại thành. Vòng luẩn quẩn của nghèo đói và mối quan hệ với cung tín dụng Đối với người nghèo hiện nay đời sống và sản xuất của họ đang ở trong vòng luẩn quẩn: Sinh sản Năng nhiều suất Thiếu Bệnh Đông con Thu nhập thấp Đầu dinh tật tư dưỡng Tích Thất lũy học Góc độ xã hội Góc độ kinh tế Nguồn: TS.Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp: Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xuất bản Thống kê [11]. Hình 1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói ¹ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực.
Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ, đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Người nghèo thu nhập thấp, thường không đủ ăn, không có tích luỹ, thiếu vốn nên không đầu tư và không có điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật nên năng suất thấp,thu nhập kém, làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, phải vay mượn để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo.
Trình độ học vấn thấp không chỉ ảnh hưởng tới thu nhập mà còn ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan về giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… ở thế hệ hiện tại mà còn cả thế hệ trong tương lai. Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục và đào tạo càng trở nên khó khăn hơn. Học vấn thấp và đói nghèo vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau, thường là bạn đồng hành miễn cưỡng đáng buồn của nhau. Điều kiện học tập khó khăn là trở ngại lớn đối với người nghèo.
Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định. Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là lao động phổ thông. Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn cũng là một trong những yếu tố nằm trong vòng luẩn quẩn đói nghèo.
Những khó khăn đó người nghèo không thể nâng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất dẫn đến năng suất thấp. Tuy nhu cầu về đầu tư của người nghèo là rất lớn, song đi kèm là trình độ dân trí, trình độ sản xuất để sử dụng đồng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng hiện nay.