Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ tỉnh Thừa Thiên Huế đóng vai trò huyết mạch trong liên kết kinh tế - xã hội với quy mô gồm 4.608 tuyến đường và 476 cây cầu có tổng chiều dài lên tới 18.052 m. Trong số đó, công trình cầu Vĩ Dạ nằm trên Quốc lộ 49A, bắc qua sông Như Ý nối liền hai tuyến phố trung tâm Bà Triệu và Phạm Văn Đồng thuộc địa phận thành phố Huế, giữ vị trí then chốt kết nối giao thông từ đồng bằng ven biển lên khu vực miền núi. Công trình được khánh thành và đưa vào khai thác từ tháng 5 năm 1998 với quy mô vĩnh cửu bằng bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực. Cầu có tổng chiều dài 169,5 m gồm 5 nhịp dầm giản đơn chữ T dài 33 m, mặt cắt ngang rộng 14,0 m bố trí 6 phiến dầm chủ, ban đầu được thiết kế theo quy trình trạng thái giới hạn 22TCN 18-79 với đoàn tải trọng H30-XB80 kết hợp tải trọng người đi bộ 300 kg/m2.

Sau hơn 21 năm khai thác liên tục, lưu lượng phương tiện và tải trọng trục xe thực tế gia tăng nhanh chóng, trong khi các tiêu chuẩn kỹ thuật cũ đã hết hiệu lực thi hành. Nhằm đáp ứng định hướng phát triển hạ tầng bền vững theo Quyết định số 392/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 894/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về chương trình phát triển các đô thị loại II, cầu Vĩ Dạ được quy hoạch nâng cấp mở rộng từ 2 làn xe lên 4 làn xe cơ giới cùng 2 làn xe thô sơ theo hoạt tải thiết kế hiện đại HL-93 (quy định tại tiêu chuẩn 22TCN 272-05 và TCVN 11823). Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định chính xác năng lực chịu tải thực tế và độ an toàn dự trữ của kết cấu nhịp cũ để tận dụng tối đa công trình hiện hữu, hạn chế chi phí giải phóng mặt bằng hai bên đầu cầu.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là thực hiện kiểm định thử tải thực nghiệm trên hiện trường, phân tích ứng xử cơ học của dầm chủ và đánh giá định lượng mức độ suy giảm an toàn thông qua chỉ số độ tin cậy mục tiêu đạt ngưỡng 3,5. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu số hóa tin cậy, giúp cơ quan quản lý giao thông chuyển dịch từ phương thức bảo trì bị động sang kiểm soát chủ động theo rủi ro, tối ưu hóa hàng chục tỷ đồng ngân sách đầu tư công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết độ tin cậy kết cấu công trình dựa trên nền tảng lý thuyết xác suất và thống kê toán học, phù hợp với nguyên lý thiết kế tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 2394:1998 và tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11823-3:2017. Khác với phương pháp tiền định truyền thống chỉ sử dụng các hệ số an toàn cố định, lý thuyết độ tin cậy coi tải trọng tác dụng, tính chất cơ lý của vật liệu và sai số kích thước hình học là các biến ngẫu nhiên độc lập có quy luật phân bố xác suất nhất định.

Hàm trạng thái giới hạn cơ bản được thiết lập dưới dạng hiệu số giữa sức kháng nội tại và hiệu ứng tải trọng ngoài: $M = g(R, S) = R - S$. Trong đó, $R$ đại diện cho sức kháng uốn tính toán của dầm chủ và $S$ đại diện cho mô men uốn do tĩnh tải kết hợp hoạt tải gây ra. Kết cấu được xem là an toàn tuyệt đối khi $M > 0$ và xảy ra trạng thái hư hỏng hay phá hoại khi $M \le 0$. Giả thiết hai biến ngẫu nhiên $R$ và $S$ tuân theo quy luật phân phối chuẩn với các giá trị trung bình $\mu_R, \mu_S$ và độ lệch chuẩn tương ứng $\sigma_R, \sigma_S$. Khi đó, chỉ số độ tin cậy $\beta$ được xác định theo biểu thức:

$$\beta = \frac{\mu_R - \mu_S}{\sqrt{\sigma_R^2 + \sigma_S^2}}$$

Chỉ số $\beta$ phản ánh khoảng cách hình học từ giá trị trung bình của biên độ an toàn tới ranh giới phá hoại theo đơn vị độ lệch chuẩn. Từ chỉ số này, xác suất phá hoại $P_f$ và xác suất an toàn $P_S$ được xác lập trực tiếp qua hàm tích phân phân phối chuẩn tắc $\Phi(\beta)$. Nhằm xử lý các hàm trạng thái phi tuyến nhiều biến ngẫu nhiên phức tạp, phương pháp tuyến tính hóa Taylor bậc một và bậc hai quanh điểm kỳ vọng toán học được áp dụng để rút gọn phép tính tích phân đa chiều mà vẫn đảm bảo độ chính xác kỹ thuật cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa khảo sát thực nghiệm hiện trường và phân tích mô hình giải tích số học trên máy tính:

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu khảo sát: Toàn bộ công trình cầu 5 nhịp với tổng chiều dài 169,5 m được khảo sát hình học chi tiết. Dữ liệu trắc dọc và trắc ngang được đo đạc trên tổng chiều dài 495 m với mật độ 10 m cho một điểm đo trắc dọc kết hợp 3 vị trí trắc ngang (vạch sơn lề bộ hành thượng lưu, tim cầu và lề hạ lưu). Khối lượng kiểm tra cường độ nén bê tông không phá hủy bằng súng bật nẩy Schmidt (tuân thủ tiêu chuẩn TCXD 239:2006 và TCXDVN 9334:2012) được thực hiện tại 24 vị trí phân bố đều: 12 vị trí trên 6 dầm chủ của hai nhịp thử nghiệm, 8 vị trí tại 4 thân trụ từ T1 đến T4, và 4 vị trí tại 2 mố M1, M2. Cỡ mẫu thử tải tĩnh và động được lựa chọn trên 2 nhịp đại diện là Nhịp 1 và Nhịp 5 (tương ứng 40% tổng số nhịp). Lý do chọn hai nhịp này vì đây là các nhịp biên chịu tác động xung kích lớn từ các phương tiện khi chuyển tiếp từ đường đầu cầu lên cầu, đại diện cho điều kiện làm việc bất lợi nhất của hệ dầm giản đơn.

Phương pháp thu thập dữ liệu và thiết bị thử tải: Đoàn xe thử tải gồm 4 xe tải chuyên dụng 3 trục Kamaz có tải trọng mỗi xe khoảng 30 tấn (trọng lượng trục trước 6 tấn, hai trục sau mỗi trục 12 tấn; cự ly giữa trục 1 và 2 là 4,0 m, giữa trục 2 và 3 là 1,35 m). Các xe được kiểm tra cân tải trọng nghiêm ngặt và điều động vào các vị trí bất lợi nhất theo 3 sơ đồ xếp tải tĩnh (lệch thượng lưu, đúng tâm, lệch hạ lưu) nhằm tạo ra hiệu ứng mô men uốn đạt từ 80% đến 90% hoạt tải thiết kế HL-93. Hệ thống đo lường hiện đại gồm hệ thống kiểm định kết cấu không dây STS-WiFi (BDI - Hoa Kỳ), máy đo biến dạng động tĩnh SDA-830C (TML - Nhật Bản), máy đo ứng suất điện tử TDS-303 với 50 kênh đo đạt độ chính xác $10^{-6}$, cùng hệ thống đồng hồ đo võng có độ phân giải 0,001 mm bố trí tại tiết diện giữa nhịp $L/2$ của 6 phiến dầm chủ. Thử tải động được thực hiện với các cấp tốc độ 20, 30 và 40 km/h để thu thập gia tốc dao động và hệ số xung kích thực tế.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc phân tích đánh giá độ tin cậy thông qua chỉ số $\beta$ được lựa chọn thay vì phương pháp ứng suất cho phép vì phương pháp này mô hình hóa được mức độ biến động ngẫu nhiên của 15 cấp tăng tải trọng (từ 5% đến 75%) và 3 cấp suy giảm sức kháng uốn vật liệu (14%, 15%, 16%), giúp đánh giá sát thực trạng thái suy thoái công trình sau hơn 2 thập kỷ làm việc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát và thử tải thực nghiệm mang lại các phát hiện kỹ thuật định lượng quan trọng:

Thứ nhất, về chất lượng vật liệu, cường độ nén thực tế của bê tông dầm chủ trên Nhịp 1 và Nhịp 5 đạt giá trị trung bình từ 42,7 MPa đến 45,6 MPa, cao hơn cường độ thiết kế ban đầu là 40,0 MPa (tăng từ 6,75% đến 14,0%). Cường độ bê tông tại các mố M1, M2 và thân các trụ T1 đến T4 dao động từ 30,1 MPa đến 34,9 MPa, đều vượt mức thiết kế quy định M300 (tương đương 30,0 MPa), cho thấy chất lượng bê tông vẫn duy trì độ đồng nhất và ổn định cao.

Thứ hai, về phản ứng ứng suất dưới tác dụng của tải trọng tĩnh, giá trị ứng suất kéo thớ dưới đo đạc thực tế tại mặt cắt giữa nhịp ($L/2$) của các phiến dầm chỉ dao động trong khoảng từ 1,09 MPa đến 2,45 MPa dưới cả 3 thế tải xếp xe. Trong khi đó, giá trị ứng suất tính toán lý thuyết theo tiêu chuẩn thiết kế đạt xấp xỉ 7,80 MPa. Kết quả thực đo chỉ bằng 17,31% đến 31,41% so với giá trị tính toán lý thuyết, khẳng định kết cấu dầm chủ làm việc hoàn toàn trong giai đoạn đàn hồi tuyến tính và có độ dự trữ an toàn rất lớn.

Thứ ba, về chuyển vị và độ võng đàn hồi, độ võng lớn nhất ghi nhận được trên dầm chủ dưới tác dụng của đoàn xe thử tải 4 xe 30 tấn là 7,51 mm (đo được tại dầm 1 và dầm 2 của nhịp 5). Trị số này thấp hơn rất nhiều so với giới hạn độ võng cho phép theo tiêu chuẩn kỹ thuật cầu đường bộ là 32,0 mm (tương đương tỷ lệ độ võng thực tế chỉ chiếm khoảng 23,47% ngưỡng cho phép).

Thứ tư, về đánh giá độ tin cậy, khi độ lệch chuẩn của sức kháng uốn $\sigma_R$ tăng dần ở các mức 14%, 15% và 16% kết hợp với sự gia tăng độ lệch chuẩn hoạt tải $\sigma_S$ từ 5% lên 75%, chỉ số độ tin cậy $\beta$ của 6 dầm chủ nhịp 5 có xu hướng suy giảm rõ rệt. Tuy nhiên, ở các cấp tải trọng vận hành thông thường (độ lệch chuẩn tải trọng dưới 30%), chỉ số $\beta$ của toàn bộ các dầm đều vượt ngưỡng độ tin cậy mục tiêu $[\beta] = 3,5$.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch đáng kể giữa ứng suất, độ võng thực đo và kết quả giải tích lý thuyết (giá trị thực tế chỉ bằng khoảng 20% đến 30% lý thuyết) bắt nguồn từ nguyên nhân hệ số phân bố ngang $g_M$ trong quy trình thiết kế 22TCN 272-05 được xây dựng dựa trên các giả thiết bao thiên về an toàn. Trong thực tế làm việc, hệ dầm ngang đổ tại chỗ và bản mặt cầu bê tông cốt thép tham gia phân phối tải trọng cục bộ rất hiệu quả giữa 6 phiến dầm chữ T, giúp san sẻ tải trọng sang các dầm lân cận tốt hơn so với mô hình tính toán phẳng đơn lập.

Dữ liệu phân tích độ tin cậy có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua hệ thống các đường cong quan hệ giữa chỉ số độ tin cậy $\beta$ và độ lệch chuẩn của tải trọng $\sigma_S$. Khi biểu diễn trên cùng một hệ trục tọa độ cho 6 dầm chủ thuộc nhịp 5, đồ thị cho thấy các dầm biên (Dầm 1 và Dầm 6) chịu ảnh hưởng lớn hơn từ hiệu ứng lệch tâm tải trọng, làm cho đường cong $\beta$ dốc hơn so với các dầm giữa (Dầm 3 và Dầm 4). Bảng tổng hợp số liệu mô men uốn kỳ vọng $S$ biến thiên từ $5,68 \times 10^9\text{ N.mm}$ đến $5,85 \times 10^9\text{ N.mm}$ tương ứng với từng phiến dầm, minh chứng rằng sự phân phối nội lực giữa các dầm có tính quy luật rõ ràng.

Bên cạnh khả năng chịu lực thuận lợi của dầm chủ, khảo sát hiện trạng phát hiện một số khuyết tật nghiêm trọng ở các bộ phận phụ trợ:

  • Toàn bộ các khe co giãn dạng hở bị đất cát lấp đầy, gây cản trở biến dạng co giãn tự do theo nhiệt độ của nhịp 33 m.
  • Hệ thống gối cầu cao su bị lão hóa biến cứng, xuất hiện hiện tượng trượt lệch đáy dầm từ 4 cm đến 6 cm.
  • Hệ thống thoát nước mặt cầu bằng ống thép đường kính 150 mm bị rỉ sét, hư hỏng làm nước mưa tràn tự do qua khe biến dạng chảy thẳng xuống xà mũ mố trụ.

Nếu không được xử lý triệt để, các hư hỏng này sẽ đẩy nhanh tốc độ ăn mòn cốt thép dự ứng lực, làm tăng độ lệch chuẩn sức kháng $\sigma_R$ vượt quá 16% và làm sụt giảm nghiêm trọng độ tin cậy tổng thể của công trình trong tương lai.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận phân tích kỹ thuật và số liệu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình và quản trị khai thác mang tính khả thi cao:

Thứ nhất, tiến hành vệ sinh, nạo vét triệt để đất cát tại các khe co giãn và thay mới toàn bộ hệ thống gối cao su cốt bản thép. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Dự án Đô thị Xanh cùng nhà thầu thi công; mốc thời gian hoàn thành trong 3 tháng đầu của giai đoạn chuẩn bị thi công mở rộng cầu. Mục tiêu là khôi phục 100% khả năng đàn hồi và chuyển vị co giãn nhiệt tự do cho 5 nhịp dầm 33 m, loại trừ hoàn toàn hiện tượng trượt gối cục bộ từ 4 đến 6 cm.

Thứ hai, cải tạo và thay thế toàn bộ hệ thống thoát nước mặt cầu bằng ống dẫn composite chống ăn mòn kết hợp quét sơn chống thấm chuyên dụng cho xà mũ các trụ T1 đến T4 và mố M1, M2. Chủ thể thực hiện là Đơn vị thi công gói thầu hạ tầng; mốc thời gian hoàn thành trong vòng 6 tháng song hành với tiến độ dự án. Mục tiêu kỹ thuật là triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng nước mặt xâm thực gây ăn mòn điện hóa kết cấu bê tông, kéo dài tuổi thọ khai thác của mố trụ thêm từ 25 đến 30 năm.

Thứ ba, phê duyệt phương án tận dụng nguyên vẹn kết cấu nhịp dầm chủ BTCT DƯL cũ trong đồ án thiết kế mở rộng cầu Vĩ Dạ về hai phía thượng - hạ lưu. Chủ thể chịu trách nhiệm là Đơn vị tư vấn thiết kế và Sở Giao thông Vận tải Thừa Thiên Huế; áp dụng trực tiếp trong hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công. Mục tiêu giúp nâng quy mô cầu từ 2 làn lên 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ đạt hoạt tải HL-93, đồng thời cắt giảm tối thiểu 35% tổng mức chi phí xây lắp so với phương án phá dỡ xây mới hoàn toàn.

Thứ tư, thiết lập hệ thống cân kiểm soát tải trọng tự động tại hai đầu tuyến Quốc lộ 49A kết hợp xây dựng cơ sở dữ liệu số quản lý cầu. Chủ thể thực hiện là Thanh tra Sở Giao thông Vận tải và Đơn vị quản lý đường bộ; thời gian vận hành định kỳ kiểm tra 12 tháng một lần. Mục tiêu khống chế độ lệch chuẩn của hoạt tải $\sigma_S$ không vượt quá mức 30%, đảm bảo chỉ số độ tin cậy của công trình luôn duy trì trên ngưỡng an toàn $\beta \ge 3,5$.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất, các Cơ quan Quản lý Nhà nước và Chủ đầu tư hạ tầng giao thông (Sở Giao thông Vận tải, Ban Quản lý Dự án Đô thị). Tài liệu cung cấp căn cứ khoa học chuẩn xác về năng lực chịu tải thực tế để phê duyệt phương án tận dụng cầu cũ khi nâng cấp đô thị, giúp tiết kiệm hàng chục tỷ đồng ngân sách và rút ngắn tiến độ thực hiện dự án.

Nhóm thứ hai, các Kỹ sư Tư vấn Thiết kế và Chuyên gia Kiểm định Cầu đường. Luận văn cung cấp quy trình chi tiết về kiểm định thử tải tĩnh - động bằng thiết bị công nghệ cao (SDA-830C, STS-WiFi BDI) và phương pháp xác định hệ số phân bố ngang thực tế, phục vụ trực tiếp cho công tác đánh giá an toàn kết cấu cầu bê tông dự ứng lực nhịp 33 m theo tiêu chuẩn HL-93.

Nhóm thứ ba, các Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên Cao học ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông. Đề tài là nguồn tài liệu học thuật giá trị minh họa cho việc ứng dụng lý thuyết độ tin cậy, khai triển chuỗi Taylor và lý thuyết xác suất thống kê vào cơ học kết cấu cầu đường bộ.

Nhóm thứ tư, các Đơn vị Quản lý, Vận hành và Bảo trì Cầu đường bộ đô thị. Luận văn hỗ trợ xây dựng quy chuẩn nhận diện khuyết tật gối cầu, khe co giãn và ứng dụng mô hình số hóa độ tin cậy để chuyển đổi công tác duy tu từ phương thức khắc phục sự cố sang bảo trì dự đoán thông minh.

Câu hỏi thường gặp

Cầu Vĩ Dạ được thiết kế theo tiêu chuẩn cũ 22TCN 18-79 có đáp ứng được hoạt tải hiện đại HL-93 không? Hoàn toàn đáp ứng an toàn. Kết quả thử tải thực nghiệm với đoàn xe Kamaz 30 tấn cho thấy ứng suất kéo lớn nhất chỉ đạt 2,45 MPa (khoảng 31% giới hạn lý thuyết) và độ võng lớn nhất là 7,51 mm, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng võng cho phép 32,0 mm. Do đó, kết cấu dầm chủ hoàn toàn đủ khả năng chịu lực dưới hoạt tải HL-93.

Tại sao giá trị ứng suất và độ võng đo đạc thực tế lại nhỏ hơn nhiều so với tính toán lý thuyết? Sự sai khác này do quy trình thiết kế 22TCN 272-05 thiên về an toàn khi tính toán hệ số phân bố ngang $g_M$. Trong thực tế, hệ dầm ngang đúc liền khối cùng bản mặt cầu bê tông giúp phân phối tải trọng giữa 6 phiến dầm chữ T đồng đều hơn rất nhiều so với mô hình giải tích lý thuyết phẳng.

Chỉ số độ tin cậy mục tiêu của kết cấu nhịp cầu Vĩ Dạ được chọn là bao nhiêu và có ý nghĩa gì? Theo tiêu chuẩn AASHTO LRFD và TCVN 11823, chỉ số độ tin cậy mục tiêu cho kết cấu nhịp dầm chủ được lựa chọn là 3,5. Chỉ số này đại diện cho xác suất an toàn xấp xỉ 99,98% (xác suất phá hoại chỉ ở mức $10^{-4}$), đảm bảo công trình vận hành an toàn trong suốt thời gian phục vụ mở rộng.

Những hư hỏng cục bộ nào tại cầu Vĩ Dạ cần phải xử lý ngay trước khi tiến hành mở rộng? Ba khuyết tật khẩn cấp cần xử lý gồm: nạo vét đất cát chèn kín khe co giãn hở; thay mới hệ thống gối cao su bị lão hóa và trượt lệch từ 4 đến 6 cm; sửa chữa hệ thống thoát nước ống thép phi 150 mm để ngăn nước mưa rò rỉ làm hỏng xà mũ mố trụ.

Phương pháp đánh giá theo lý thuyết độ tin cậy có ưu điểm gì so với phương pháp kiểm định truyền thống? Phương pháp độ tin cậy lượng hóa được các yếu tố ngẫu nhiên như biến động lưu lượng xe quá tải (khảo sát tới 15 cấp tăng tải) và sự suy thoái vật liệu bê tông cốt thép theo thời gian (từ 14% đến 16%), giúp đưa ra dự báo chính xác về tuổi thọ còn lại thay vì chỉ đánh giá định tính tức thời.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định chính xác năng lực chịu tải thực tế của cầu Vĩ Dạ sau 21 năm khai thác: cường độ bê tông dầm chủ đạt 42,7 - 45,6 MPa, ứng suất thực đo chỉ chiếm 17% - 31% giới hạn tính toán và độ võng cực đại 7,51 mm nằm sâu trong giới hạn an toàn cho phép 32,0 mm.
  • Đánh giá định lượng thành công độ tin cậy của 6 dầm chủ nhịp 5 bằng phương pháp xác suất thống kê, chứng minh kết cấu nhịp đảm bảo vượt chỉ số an toàn mục tiêu $\beta \ge 3,5$ đối với các cấp hoạt tải thiết kế mở rộng HL-93.
  • Cung cấp cơ sở khoa học then chốt phục vụ phê duyệt phương án tận dụng dầm cũ khi mở rộng mặt cắt ngang cầu lên 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ theo Quyết định số 894/QĐ-UBND của tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Kế hoạch triển khai kỹ thuật tiếp theo yêu cầu hoàn tất việc thay thế hệ thống gối cầu cao su bị trượt lệch 4 - 6 cm, nạo vét khe co giãn và sửa chữa hệ thống thoát nước trong vòng 3 đến 6 tháng trước khi lắp đặt kết cấu mở rộng.
  • Các đơn vị quản lý cầu đường bộ cần sớm tích hợp mô hình đánh giá độ tin cậy vào hệ thống quản trị dữ liệu số nhằm chủ động kiểm soát tải trọng trục xe và lập kế hoạch duy tu định kỳ 12 tháng/lần cho toàn bộ 476 cây cầu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.