MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Móng cọc là loại móng được sử dụng phổ biến trong các công trình xây dựng dân dụng, cầu đường, thủy lợi. Móng cọc là giải pháp nền móng có nhiều ưu điểm nổi bật về tính ổn định về khả năng chịu tải và độ lún, kinh tế về giá thành và đa dạng về phương pháp thi công. Sự làm việc ổn định của móng được quyết định chủ yếu chính là khả năng chịu tải của cọc. Khi chịu tác dụng của tải trọng công trình, cọc phát huy khả năng chịu tải thông qua ma sát giữa thành cọc và đất và sức kháng mũi cọc.
Để chịu được tải trọng lớn hơn, móng cọc bao gồm nhiều cọc. Trong tính toán kết cấu móng cọc theo mô hình đàn hồi tuyến tính, lực dọc trong cột truyền xuống đài cọc và phân bố lại trên các đầu cọc được xem tương đương nhau (bỏ qua moment và lực ngang tại chân cột). Nhưng trong thực tế, các cọc ở vị trí khác nhau trong một móng có thể gánh chịu tải trọng khác nhau do một số nguyên nhân. Mục tiêu của luận văn này là tính toán và mô phỏng ứng xử của móng cọc nhằm phân tích sự phân bố sức kháng của các cọc trong móng, khả năng mang tải của các cọc ở vị trí khác nhau trong móng, từ kết quả mô phỏng phân tích nguyên nhân phát sinh hệ số nhóm cọc, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm áp dụng vào thực tiễn khi tính toán thiết kế móng cọc.
Mục tiêu nghiên cứu Phân tích sự phân bố lực dọc thân cọc theo độ sâu, khả năng huy động ma sát dọc theo thân cọc; khả năng mang tải của các cọc ở vị trí khác nhau trong móng; nguyên nhân phát sinh hệ số nhóm cọc. Phân tích sự ảnh hưởng của kích thước đài cọc lên sự phân bố ma sát trên thân cọc trong phạm vi đáy đài. Phương pháp nghiên cứu Dùng phương pháp giải tích để tính sức chịu tải của cọc theo Tiêu chuẩn TCVN 10304:2014; -2- Phân tích đánh giá hệ số nhóm theo một số tác giả; Dùng phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) (phần mềm Plaxis 3D) để mô phỏng các móng cọc có kích thước khác nhau chịu tải trọng dọc trục, có đài tuyệt đối cứng. Phục vụ phân tích sự phân bố khả năng gánh tải của các cọc ở các vị trí khác nhau trong móng; Căn cứ vào kết quả giải tích tính sức chịu tải của cọc, hệ số nhóm cọc theo một số tác giả, sau đó tiến hành phân tích, so sách với phương pháp PTHH để đưa ra các kiến nghị phù hợp để có thể áp dụng vào thực tế tính toán thiết kế.
Phạm vi nghiên cứu Tính toán phân tích cho móng cọc của một công trình thực tế; Nghiên cứu sử dụng móng cọc khoan nhồi có đài là tuyệt đối cứng, đài cọc chỉ chịu tải trọng dọc trục phân bố đều, khoảng cách giữa các cọc trong đài bằng 3d (d: đường kính cọc). Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Ý nghĩa khoa học: đề tài “Phân tích và đánh giá khả năng chịu tải của cọc có xét ảnh hưởng số lượng cọc trong nhóm” giúp cho người thiết kế có cái nhìn bao quát để đưa ra các cách bố trí cọc, chọn số lượng cọc trong đài cũng như kích thước đài cọc hợp lý hơn. Giúp phân tích nguyên nhân khác biệt khả năng gánh tải của cọc ở các vị trí khác nhau trong móng so với khả năng gánh tải của cọc khi làm việc độc lập. Ý nghĩa thực tiễn: kết quả đạt được dùng để tính toán, thiết kế và bố trí cọc trong móng cho công trình thực tế hợp lý hơn.
-3- TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG XỬ TRONG MÓNG CỌC 1.1 Giới thiệu và điều kiện lựa chọn móng cọc 1.1 Giới thiệu móng cọc Móng cọc là loại móng sâu, thường dùng cho các công trình có tải trọng lớn hoặc lớp đất tốt nằm sâu dưới đất. Có hai loại cọc phổ biến: cọc bê tông cốt thép (BTCT) đúc sẵn và cọc khoan nhồi (cọc đổ tại chỗ). Khi phương án móng nông không còn thích hợp để gánh đỡ công trình hoặc do tải trọng quá lớn hoặc do lớp đất nền bên trên gần mặt đất là loại đất yếu, khả năng chịu tải kém. Phương án móng sâu được xét đến để truyền tải trọng đến những lớp đất chịu lực tốt hơn thông qua các cọc, nhằm gia tăng khả năng chịu tải.
Móng cọc cho phép phát huy tối đa khả năng chịu lực của cọc, hạn chế độ lún cho công trình. Móng cọc có nhiều ưu điểm so với các loại móng khác, như tận dụng được sự làm việc của đất nền, phát huy tối đa sức chịu tải của cọc, chịu được tải trọng lớn. Móng cọc là sự kết hợp của 3 yếu tố: cọc, đài cọc, đất. Do đó ứng xử của móng cọc phụ thuộc vào sự tương tác giữa các phần tử móng và đất.
Katzenbach đã xác định được 4 loại tương tác như sau: - Sự tương tác giữa cọc và đất - Sự tương tác giữa cọc và cọc - Sự tương tác giữa đất và đài cọc - Sự tương tác giữa cọc và đài cọc. Hiệu ứng tương tác giữa đất vá cấu trúc trong móng cọc của Katzenbach et al. (1998) and Katzenbach et al. (2000) [1] qt: ứng suất tác dụng Qp: Tải truyền lên cọc qr: áp lực đất lên đáy móng (S-P) Tương tác giữa đất và cọc (S-R) Tương tác giữa đất và đài cọc (P-R) Tương tác giữa cọc và đài cọc (P-P) Tương tác giữa cọc và cọc.2 Cơ chế làm việc của móng cọc Nghiên cứu tác động qua lại khi kể tới ảnh hưởng của đài cọc, nền đất dưới đáy đài và cọc cho thấy cơ cấu truyền tải trọng như sau: - Sự làm việc của đài cọc: tải trọng từ công trình truyền xuống móng.
Đài cọc liên kết các đầu cọc thành một khối và phân phối tải trọng công trình xuống cho các cọc. Sự phân phối này phụ thuộc vào việc bố trí các cọc và độ cứng kháng uốn (EJ) của đài. Ở một mức độ nhất định nó có khả năng điều chỉnh độ lún không đều (lún lệch). - Ảnh hưởng của nền đất dưới đáy đài: khi đài cọc chịu tác động của tải trọng một phần được truyền xuống cho các cọc chịu và một phần được phân phối cho nền -5- đất dưới đáy đài.
Tỷ lệ phân phối này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ cứng của nền đất, chuyển vị của đài, chuyển vị của cọc và việc bố trí các cọc. - Ảnh hưởng của cọc: cơ chế làm việc của cọc là nhờ được hạ vào các lớp đất tốt phía dưới nên khi chịu tác động của tải trọng đứng từ đài cọc nó sẽ truyền tải này xuống lớp đất tốt thông qua lực ma sát giữa cọc với đất và lực kháng mũi cọc làm cọc chịu kéo hoặc nén. Trong quá trình làm việc cọc còn chịu thêm các tác động phức tạp khác như: hiệu ứng nhóm cọc, lực ma sát âm. Do có độ cứng lớn nên cọc tiếp nhận phần lớn tải trọng từ đài xuống, chỉ có một phần nhỏ do nền tiếp nhận.
Tóm lại, sự làm việc của đài cọc – cọc – nền đất là một hệ thống nhất làm việc đồng thời cùng nhau và tương tác lẫn nhau phức tạp. Sự tương tác đó phụ thuộc vào độ cứng kháng uốn của đài cọc, tính chất của nền đất, độ cứng của cọc (khả năng chịu tải và bố trí cọc). Nhờ vào sự tương tác đó mà tải trọng được phân phối xuống nền đất gây ra chuyển vị của nền, chuyển vị này phân phối lại tải trọng cho kết cấu bên trên từ đó có tác dụng điều chỉnh chênh lún, giữ được ổn định không gian cho móng.3 Điều kiện lựa chọn móng cọc Polous (2000) [2] đã chỉ ra điều kiện thuận lợi và không thuận lợi cho lớp đất bên dưới khi sử dụng cho móng cọc như sau: Tình huống thuận lợi: - Đất có cấu tạo bao gồm lớp sét tương đối cứng - Đất có cấu tạo bao gồm lớp cát tương đối dày Tình huống không thuận lợi: - Đất có cấu tạo chứa các lớp sét mềm gần bề mặt - Đất có cấu tạo chứa các lớp cát không chặt gần bề mặt - Đất cấu tạo có tính chịu nén yếu ở độ sâu tương đối nông - Đất cấu tạo có thể đã trải qua quá trình trương nở do các nguyên nhân bên ngoài.2 Các kết quả nghiên cứu ứng xử trong móng cọc -6- 1.1 Sự thay đổi áp lực lỗ rỗng và tăng bền do lưu biến trong đất xung quanh cọc Sự làm việc của cọc trong đất loại sét bão hòa nước, sự thay đổi áp lực nước trong lỗ rỗng và cốt đất có ý nghĩa quan trọng, sự phục hồi cấu trúc bị phá vỡ và tăng bền của đất dưới tác dụng của ứng suất hình thành do quá trình hạ cọc cũng thể hiện các ảnh hưởng. Các hiện tượng này ảnh hưởng đáng kể lên khả năng chịu tải của cọc và thay đổi lực ma sát dọc thân cọc theo thời gian.
Khi hạ cọc trong đất sét bão hòa nước, xảy ra sự dịch chuyển đất nền về các phương dưới tác dụng của ngoại lực lớn và tức thời. Đất nền bị nén chặt trong khoảng thời gian ngắn. Độ rỗng của đất giảm, tuy nhiên nước lỗ rỗng không kịp thấm ra để gây nén thể tích đất và các bọt khí, từ đó làm gia tăng áp lực nước lỗ rỗng, đặc biệt ở khu vực đất giữa các cọc. Sau khi hạ cọc xảy ra hiện tượng chùng ứng suất tổng đến giá trị xác định, áp lực nước lỗ rỗng tiêu tán đến áp lực thủy tĩnh và ứng suất trong cốt đất gia tăng đến giá trị không đổi.
Khi áp lực nước lỗ rỗng thặng dư bằng không, tức là đất ở trạng thái tĩnh, lực ma sát dọc theo thân cọc đạt giá trị lớn nhất. Trong quá trình xảy ra lưu biến, đồng thời xảy ra hiện tượng giảm bền do phá hoại cấu trúc và tăng bền do nén chặt, gia tăng ứng suất hữu hiệu. Hiện tượng tăng bền và cố kết có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cọc trong đất sét bão hòa nước đạt khả năng chịu tải lớn nhất sau khi các hiện tượng cố kết và lưu biến chấm dứt.
Trong nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trong nền sét xung quanh cọc và phạm vi ảnh hưởng, cần thiết phải xét hai giai đoạn: - Sự thay đổi áp lực nước lỗ rỗng và ứng suất hữu hiệu, tăng bền trong đất xung quanh cọc do ứng suất phát sinh trong quá trình hạ cọc, sự gia tăng khả năng chịu tải theo thời gian.