Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng và tín dụng tiêu dùng 1. Cơ sở lý luận về nghiệp vụ tín dụng ngân hàng 1. Các vấn đề cơ bản về tín dụng 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoảng chi phí nhất định. Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung: - Có sự chuyển nhượng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Phân loại tín dụng: Dựa vào mục đích vay: Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng được phân loại thành: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp Cho vay tiêu dùng cá nhân Cho vay bất động sản Cho vay nông nghiệp Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu Dựa vào thời gian tín dụng Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
Cho vay dài hạn:là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích là nhằm tài trợ vào các dự án đầu tư. Dựa vào mức độ tín hiệm của khách hàng Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ 3 mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng khi vay vốn để quyết định cho vay. Thường đựoc áp dụng cho các khách hàng quen thuộc, được tín nhiệm, có nguồn vốn mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định hoặc theo sự chỉ định của Chính phủ.
Trần Thị Phương Thảo 10 Báo cáo thực tập GVHD: Th.s Phạm Hải Châu Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba khác. Dựa vào phương thức cho vay: Cho vay theo món vay Cho vay theo hạn mức tín dụng Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. Cho vay trả góp Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có thời hạn cụ thể mà tùy theo khả năng tài chính của người đi vay có thể trả nọ bất cứ lúc nào. Dựa vào hình thái cho vay Cho vay bằng tiền: là hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng và việc cho vay được thực hiện bằng các nghiệp vụ khách như tín dụng ứng truớc, thấu chi, tín dụng trả góp, tín dụng thời vụ… Cho vay bằng tài sản: loại cho vay này thường dưới hình thức ngân hàng cho vay bằng tài trợ thuê mua.
Theo phương thức này, NHTM hoặc công ty cho thuê tài chính của NHTM cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vayvà người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi vay khi đến hạn. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất lien tục, đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Do sự thừa thiếu vốn tạm thời ở các doanh nghiệp thường xuyên xảy ra nên việc phân phối tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế. Đồng thời tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục.
Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Trong nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố định cho doanh nghiệp, vì vậy tín dụng động viên hàng hóa đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào trong sản xuất. Riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối, lạm phát và thất nghiệp vẫn luôn là khả năng tiềm ẩn, thong qua đầu tư tín dụng góp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Mặt khác thông qua hoạt động tín dụng mà sử dụng nguồn lao động Trần Thị Phương Thảo 11 Báo cáo thực tập GVHD: Th.s Phạm Hải Châu và nguyên liệu hợp lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.
Góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá. Với chức năng tập trung và tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, nếu khi xét về khía cạnh tín dụng ngân hàng được hiểu như “người dân cho ngân hàng vay” thì đã trực tiếp làm giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông, khi đó lượng tiền dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể ảnh hưởng xấu đến tình trạng lưu thông tiìen tệ dẫn đến mất cân đối trong quan hệ hàng – tiền, và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi. Do đó , trong điều kiện nền kinh tế bụ lạm phát, tín dụng được xem là một trong những phương pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát. Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội.
Hoạt động tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư. Trong nền kinh tế ngoài các ngân hàng còn có hệ thống những tổ chức tín dụng sẵn sàng cung cấp vốn vay cho các cá nhân để phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tu liệu sinh hoạt. Tạo điều kiện phát trỉên các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế gắn liền với thị trường thế giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho kinh tế mở, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền nền kinh tế các nước với nhau.
Đối với các nước phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các vấn đề về bảo đảm tín dụng Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Mặc dù trước khi quyết định cho vay, ngân hàng đã trải qua các khâu thu nhập, xử lý, phân tích và thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách nhưng vẫn không thể nào loại bỏ được rủi ro tín dụng. Do vậy, bảo đảm tiền vay có thể coi như là một trong những cách thức nhằm gia tăng khả năng thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Bảo đảm tín dụng hay còn gọi là bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khỏan nợ đã cho khách hàng vay. Bất kỳ tài sản hoặc quyền phát sinh từ tài sản có Trần Thị Phương Thảo 12 Báo cáo thực tập GVHD: Th.s Phạm Hải Châu thể phát sinh ngân lưu đều có thể dung làm bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên để đảm bảo tiền vay thực sự có hiệu quả, đòi hỏi: - Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm. - Tài sản dung làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu (phải có giá trị và có thị trường tiêu thụ).
- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản dung làm bảo đảm vay. Các hình thức bảo đảm tín dụng: 1. Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp Bảo đảm tín dụng bằng việc thế chấp là việc bên vay vốn thế chấp tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay. Bảo đảm tín dụng bằng tài sản cầm cố Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là các động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Động sản cầm cố có thể là loại không cần đăng ký quyền sở hữu, có loại cần đăng ký. Đối với loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu, khi cầm cố tài sản phải được giao nộp cho bên cho vay. Đối với tài sản có đăng ký sỡ hữu, khi cầm cố hai bên có thể thỏa thuận để bên cầm cố có thể giữ tài sản hoặc giao tài sản cầm cố cho bên thứ ba giữ. Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản cho vay của ngân hàng.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng. Bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay (người được bảo lãnh) nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Quy trình tín dụng 1. Ý nghĩa việc thiết lập quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Trần Thị Phương Thảo 13 Báo cáo thực tập GVHD: Th.s Phạm Hải Châu 1.