Chương 1. Giới thiệu về đề tài. Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha thời kỳ từ năm 2014- 2016 Chương 4.
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu “ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha” nhằm giải quyết các mục tiêu sau: - Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp; - Đánh giá, phân tích tình hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha thời kì từ năm 2014- năm 2016; SV: DƯƠNG THỊ THUỶ 2 LỚP: TCDN VB2K27B Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. LƯƠNG THÁI BẢO - Đề xuất phương án và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha trong thời gian tới.3 Câu hỏi nghiên cứu - Hệ thống chỉ tiêu đô lường hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là gì? - Kết quả phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha như thế nào? - Công ty đã đạt được những thành tựu gì và những mặt nào còn tồn tại trong quá trình quản lý hiệu quả sử dụng vốn? Nguyên nhân của những tồn tại đó là gì? - Có thể áp dụng những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng và nội dung nghiên cứu của luận văn là hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp và các vấn đề khác có liên quan. Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian nghiên cứu: Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha. + Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2016.5 Phương pháp nghiên cứu Có bốn phương pháp để phân tích tài chính cũng như phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: - Phương pháp so sánh.
- Phương pháp tỷ số ( Tỷ lệ) - Phương pháp Dupont - Phương pháp thay thế liên hoàn Số liệu nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu thu thập trong các bản báo cáo của Công ty Cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha. SV: DƯƠNG THỊ THUỶ 3 LỚP: TCDN VB2K27B Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. LƯƠNG THÁI BẢO 1.6 Mô hình nghiên cứu Dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thứ cấp Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn Tình hình sử dụng Hệ thống chỉ Tình hình sử dụng vốn của công ty cổ Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phần thực phẩm vốn của công ty cổ hiệu quả sử quốc tế Alpha tiêu đánh giá dụng vốn phần thực phẩm hiệu quả sử quốc tế Alpha dụng vốn Những vấn đề còn Những vấn đề còn tồn tại tồn tại Đề xuất giải pháp nâng Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty SV: DƯƠNG THỊ THUỶ 4 LỚP: TCDN VB2K27B Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. LƯƠNG THÁI BẢO CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng.
Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành kinh doanh. Từ những phân tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Ở nước ta hiện nay, khái niệm về vốn cũng được hiểu khác nhau. Một số cho rằng vốn là số tiền đầu tư ứng trước vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Một số khác có quan điểm cho rằng vốn gồm hai bộ phận là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Quan điểm này có sự đồng nhất giữa vốn và nguồn vốn.
Họ cho rằng vốn và nguồn vốn chỉ là những cách gọi khác nhau để chỉ ra nguồn của tài sản trong doanh nghiệp. Theo tác giả, vốn và nguồn vốn là hai mặt của cùng một SV: DƯƠNG THỊ THUỶ 5 LỚP: TCDN VB2K27B Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. LƯƠNG THÁI BẢO lượng tài sản do doanh nghiệp quản lý, sử dụng; trong đó vốn là biểu hiện bằng tiền ( giá trị) của các tài sản của doanh nghiệp, còn nguồn vốn chỉ ra nguồn gốc hình thành các tài sản này. Khi nói đến vốn tức là muốn nói đến giá trị những tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, sử dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Vốn trong doanh nghiệp có các đặc trưng sau: - Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như: Nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu, chất xám, thông tin, vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thuơng mại, bản quyền phát minh, sáng chế,… - Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốn trong tương lai, bởi vì có thể đầu tư tiền của ngày hôm nay để thu được những khoản thu nhập trong tương lai. Tỉ lệ lãi suất là sự đo lường thời giá của tiền tệ, nó phản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn phải bỏ ra để thu lợi nhuận. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chính xác hiệu quả của đầu tư. - Vốn luôn vận đồng vì mục tiêu sinh lời.
Nếu coi hình thái khởi đầu của vốn là tiền thì sau một quá trình vận động vốn có thể biến đổi qua các hình thái vật chất khác nhau, nhưng kết thúc chu kỳ vận động vốn lại trở lại trạng thái ban đầu là tiền. Theo quy luật, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì lượng tiền này phải lớn hơn lượng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu, có nghĩa là doanh nghiệp phải có lợi nhuận. - Vốn luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định, không có vốn vô chủ, vì nó sẽ dẫn đến chi tiêu lãng phí và kém hiệu quả. - Vốn được xem là một hàng hoá đặc biệt.
Khác với hàng hoá thông thường, hàng hoá vốn được bán sẽ không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu một khoản tiền được gọi là lãi. Như vậy, lãi suất là giá phải trả cho việc được quyền sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định. Việc mua bán diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán vốn cũng tuân theo quan hệ cung- cầu trên thị trường. SV: DƯƠNG THỊ THUỶ 6 LỚP: TCDN VB2K27B Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.
LƯƠNG THÁI BẢO Các đặc trưng của vốn cho thấy, vốn là nguồn lực có hạn cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả. Đây là vấn đề có tính chất nguyên lý, là cơ sở cho việc hoạch định chính sách quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp.2 Phân loại vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân loại vốn là yêu cầu cơ bản của công tác quản lý, sử dụng vốn. Tuỳ theo mục đích của người quản lý mà có nhiều cách phân loại vốn khác nhau. Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia làm hai loại: Vốn hữu hình và vốn vô hình.
Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn ngắn hạn và vốn dài hạn. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được hình thành từ hai nguồn cơ bản: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành bởi hai bộ phận đó là: vốn cố định và vốn lưu động.
Tùy theo từng loại hình của doanh nghiệp và tùy theo công nghệ sản xuất và trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật mà có tỷ lệ vốn hợp lý. Việc xác định cơ cấu vốn ở từng doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi doanh nghiệp. Và phân loại vốn theo hình thức chu chuyển hay phân loại vốn theo bên tài sản có là mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề này. Đây là tiêu thức phân loại vốn chủ yếu nhất, có hiệu quả nhất trong việc quản lý vốn.
Vốn lưu động Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau doanh nghiệp phải sử dụng các đối tượng lao động khác, phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình sản xuất hợp thành thực thể của sản phẩm. Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán, tài sản lưu động được thể SV: DƯƠNG THỊ THUỶ 7 LỚP: TCDN VB2K27B Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.
LƯƠNG THÁI BẢO hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị các khoản tài sản lưu động của doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản.