Phần mở đầu giới thiệu những vấn đề cơ bản của việc thực hiện nghiên cứu như sự cần thiết để tiến hành nghiên cứu; mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; đồng thời trình bày các bước tiến hành và cấu trúc của bài nghiên cứu. Chƣơng 1: Tổng quan về tài liệu nghiên cứu, trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu. Bao gồm lý thuyết kinh tế trong sản xuất nông nghiệp với phương pháp hạch toán, lập trình, phương pháp dùng hàm sản xuất Cobb-Douglas và các ứng dụng của nó; các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước; đặc điểm, vai trò của chăn nuôi lợn và các chính sách phát triển chăn nuôi lợn của Trung ương và địa phương. Chƣuơng 2: Phương pháp nghiên cứu, trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu; nguồn số liệu; phân tích số liệu theo phương pháp hạch toán từng phần; phân tích hàm sản xuất ứng dụng vào nghiên cứu.
Chƣơng 3: Hiện trạng kinh tế và kỹ thuật chăn nuôi lợn, trình bày tổng quan về chăn nuôi lợn của Lào và một số nước trên thế giới; chăn nuôi lợn tại 123doc 5 tỉnh Savannakhet; các yếu tố kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt; các yếu tố kinh tế thị trường và giá sản phẩm. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu, trình bày các nội dung về đặc điểm các hộ chăn nuôi lợn thịt tại 3 huyện điều tra; kết quả mô hình hàm sản xuất nghiên cứu thực nghiệm; phân tích các hiệu quả về kỹ thuật, hiệu quả phân phối, hiệu quả kinh tế khi sử dụng các yếu tố đầu vào; phân tích hiệu quả kinh tế theo quy mô của các nông hộ chăn nuôi lợn thịt. Chƣơng 5: Kết luận và đề xuất một số chính sách nhằm phát triển chăn nuôi lợn thịt tại tỉnh Savannakhet. Giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được đề cập trong chương này.
123doc 6 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp từ lâu đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu và đã có nhiều lý thuyết được hình thành phù hợp với từng giai đoạn nghiên cứu. Nội dung của chương này trình bày các lý thuyết và nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Phần thứ nhất lược khảo về một số lý thuyết có liên quan; Phần thứ hai tóm lược một số đặc điểm của ngành chăn nuôi; Phần thứ ba đánh giá vai trò và vị trí của chăn nuôi lợn thịt; Phần thứ tư phân tích kinh tế trong nông nghiệp; Phần thứ năm trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước; Phần thứ sáu là khái quát một số chính sách phát triển chăn nuôi lợn.
Khái niệm về kinh tế hộ Kinh tế hộ gia đình là hoạt động kinh tế gắn liền với gia đình và gia đình là người đứng ra tổ chức các hoạt động đó. Một phần sản phẩm làm ra được sử dụng cho tiêu dùng của gia đình (Đào Công Tiến, 2000). Khái niệm về hiệu quả kinh tế Vấn đề quan tâm hàng đầu trong nền sản xuất của xã hội là phải bảo đảm không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế. Việc xác định hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát cho mọi tính toán trong việc xây dựng kế họach kinh tế.
Đối với địa phương nó là cơ sở để xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra nguồn sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho nhà sản xuất. Hiệu quả kinh tế là đại lượng dùng để đo lường kết quả hoạt động thu được với toàn bộ chi phí bỏ ra để sản xuất một loại sản phẩm nào đó. Nghĩa là 123doc 7 nó phản ánh mức độ sử dụng nguồn nhân lực sẵn có trong tự nhiên cũng như do con người tạo ra như lao động, vốn, máy móc, thiết bị, vật tư,. để có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất.
Chính vì thế, hiệu quả kinh tế cao hay thấp là do việc sử dụng các yếu tố này có hiệu quả hay không. Khái niệm về chăn nuôi Chăn nuôi là một hệ thống các biện pháp về giống, thức ăn, thú y, kỹ thuật cần được áp dụng đúng quy trình để nuôi dưỡng, chăm sóc vật nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho con người. Vật nuôi bao gồm: gia súc và gia cầm. Gia súc gồm: lợn nuôi lấy thịt; Trâu, bò, nuôi lấy thịt, sữa, da và sức kéo; Ngựa, Dê, Cừu,… ;Gia cầm gồm: ngan, vịt, ngỗng nuôi lấy thịt, trứng, lông,.
ngoài ra còn nuôi ong, nuôi tằm, nuôi chim cảnh mang lại giá trị kinh tế cao. Vai trò chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn có vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp cùng với lúa nước, đồng thời cũng xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Lào. Nói chung, chăn nuôi lợn có một số vai trò nổi bật sau: Trong điều kiện lao động của nền kinh tế và trình độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá cao đòi hỏi cường độ lao động và lao động trí óc ngày càng cao thì nhu cầu thực phẩm từ sản phẩm động vật sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong bữa ăn hàng ngày của người dân. Chăn nuôi lợn sẽ đáp ứng được yêu cầu đó, các sản phẩm từ thịt lợn đều là các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao và giá trị sinh vật học của protein cao hơn các thức ăn có nguồn gốc thực vật.
Vì vậy, thực phẩm từ thịt lợn luôn là các sản phẩm không thể thiếu trong dinh dưỡng con người. Chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến. Hiện nay thịt lợn là nguyên liệu chính cho các công nghiệp 123doc 8 thịt xông khói (bacon), xúc xích, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Lào như giò nạc, giò mỡ, cũng đều được làm từ thịt lợn. Chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp phân bón cho cây trồng và thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản.
Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể đến vai trò của phân bón hữu cơ nhận được từ phân lợn, phân lợn là một nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Chăn nuôi lợn là ngành sản xuất đem lại lợi nhuận cao do chu kỳ sản xuất ngắn, giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi cao, khai thác tối đa việc sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động, đất đai. nhất là nguồn lực lao động nhàn rỗi trong nông thôn hạn chế được tính thời vụ trong nông nghiệp. Bên cạnh đó chăn nuôi lợn còn tận dụng được các phế phụ phẩm của gia đình, của ngành trồng trọt, ngành công nghiệp thực phẩm để tạo ra sản phẩm có giá thành hạ, góp phần nâng cao đời sống và làm tăng thu nhập quốc dân.
Vai trò chăn nuôi trong kinh tế hộ Nông thôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước Lào đang tập trungđẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn và nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cả nước, đảm bảo lương thực cho quốc gia, cho dự trữ và cho xuất khẩu. Hơn thế nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động dồi dào để phát triển các ngành nghề ở nông thôn nói riêng và đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho ngành công nghiệp, du lịch để góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn. Khái niệm về hàm sản xuất nông nghiệp Hàm sản xuất nông nghiệp biểu diễn mối quan hệ kỹ thuật giữa năng suất thu hoạch và các yếu tố đầu vào.
Các yếu tố đầu vào cùng nhau tương tác và tác động đến năng suất sau cùng của cây trồng hoặc vật nuôi. Theo một định nghĩa khác thì hàm sản xuất mô tả mối quan hệ kỹ thuật nhằm chuyển đổi các tài nguyên (yếu tố đầu vào) thành các loại nông phẩm. Trên cơ sở lý thuyết kinh tế học, các yếu tố đầu vào của nông dân được phân chia thành yếu tố cố định và yếu tố thay đổi (Sadoulet và De Janvy, 1995). Một yếu tố đầu vào được xem là cố định khi số lượng của nó không thay đổi theo năng suất trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong nông nghiệp, các yếu tố như đất đai, học vấn, tri thức nông nghiệp, được gọi là cố định trong một khoảng thời gian ngắn, bởi vì số lượng của nó không thay đổi khi năng suất thay đổi. Ngược lại các yếu tố đầu vào thay đổi là các yếu tố mà nông dân có thể kiểm soát và thay đổi số lượng của chúng để tác động đến năng suất. Điều này có nghĩa là người nông dân có đủ thời gian để điều chỉnh loại và lượng vật tư cần thiết trong sản xuất. Các loại thuốc bảo vệthực vật, lao động, thức ăn chăn nuôi, trọng lượng con giống là những ví dụ về yếu tố vật tư thay đổi.
Tùy thuộc vào tình hình dịch bệnh hoặc thể trạng của đàn gia súc trong một khoảng thời gian nào đó trong quá trình sản xuất, nông dân có thể lựa chọn loại thuốc, thức ăn phù hợp và sử dụng với số lượng nhiều hoặc ít hơn so với liều lượng được khuyến cáo. Tuy nhiên, các yếu tố đầu vào này được giả định là cố định hoặc thay đổi phụ thuộc vào khoảng thời gian được xem xét. Các nhà kinh tế thông thường định nghĩa thời gian được gọi là dài hạn khi khoảng thời gian đó đủ dài để tất cả các yếu tố đều có thể được thay đổi. Ngược lại thời gian được gọi là ngắn hạn khi trong khoảng thời gian này nông dân chỉ thay đổi được một số yếu tố mà thôi.
Ngoài các yếu tố đầu vào thay đổi và cố định, hàm sản xuất trong nông nghiệp 123doc 10 còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tự nhiên (nắng, gió, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí,.), các yếu tố sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp (tập đoàn vi sinh, côn trùng, sâu bệnh hại, và trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý sản xuất (giống địa phương so với giống mới, giống lai ghép; hoặc sản xuất cơ giới hóa so với sản xuất thủ công, quản lý dinh dưỡng tổng hợp). Trên khía cạnh kỹ thuật, năng suất sinh học hay tổng lượng sinh khối đạt được và đưa ra khỏi hệ thống sản xuất bao gồm các nông phẩm chính (trọng lượng lợn xuất chuồng, hạt lúa, hạt bắp,.