Chương 1: Thực trạng đầu tư BOT giao thông ở Việt Nam và lý do lựa chọn đề tài Chương 2: Tổng quan Trong chương này, các vấn đề tổng quan về đầu tư BOT ở Việt Nam cùng các phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính của các loại dự án này được đề cập và làm rõ. Chương 3: Phương pháp phân tích cấu trúc lượng hồi vốn và vấn đề tối ưu lợi nhuận của nhà đầu tư BOT trong các dự án xây dựng đường bộ Chương này giới thiệu phương pháp phân tích cấu trúc lượng hồi vốn; Các vấn đề về tối ưu lợi nhuận của Nhà đầu tư và lợi ích xã hội; Vận dụng phương pháp cấu trúc lượng hồi vốn để đề xuất các giải pháp bổ sung các nguồn vốn thông qua các kịch bản; Phân tích lợi nhuận của Nhà đầu tư và lợi ích của xã hội trên cơ sở các bài toán trên. Chương 4: Vận dụng kịch bản đầu tư khảo sát tối ưu cho dự án BOT Hòa Cầm – Hòa Phước. Kịch bản được khảo sát cho thấy tính khả thi và hiệu quả của sử dụng phương pháp này.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trang 17 Chương 2: TỔNG QUAN Nội dung của chương này khái quát về đầu tư theo hình thức BOT là một trong những hình thức nổi bật và ưu điểm để nhà nước cần quan tâm ưu tiên áp dụng nhiều hơn để giảm bớt áp lực về nguồn vốn ngân sách đang thiếu hụt cho việc phát triển cơ sở hạ tầng Giao thông; Các phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính và kinh tế cho các dự án BOT hiện nay; Từ đó cho ta thấy thực trạng đầu tư theo hình thức BOT hiện nay có nhiều ưu điểm, song nhiều dự án đàm phán không thành công, vẫn còn nhiều tồn tại mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Phải chăng hầu hết các dự án đầu tư theo hình thức này hiện nay chủ yếu thu hồi vốn qua mỗi hình thức thu phí nhưng việc thu hồi vốn kéo dài quá lâu? làm cho các nhà đầu tư đắn đo, nhiều rủi ro ở phía trước.chưa xem xét thêm các phương án nguồn thu khác mà nhà nước phải ưu tiên quan tâm. Vì vậy chương này sẽ trình bày rõ những vấn đề đã nêu trên, từ đó định ra những phương án thu hồi vốn bổ sung để giúp nhà đầu tư tham gia xây dựng các công trình Giao thông theo hình thức BOT. Các khái niệm cơ bản Ðầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiếnhành các hoạt động.
trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư – trích mục 1&7, điều 3 Luật đầu tư. Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Dự án BOT là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để đầu tư xây dựng, vận hành công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc cải tạo, mở rộng, hiện Trang 18 đại hóa, vận hành, quản lý các công trình hiện có theo hình thức Hợp đồng BOT. Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (gọi tắt là Hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước và Nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, Nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
Doanh nghiệp BOT là là doanh nghiệp do Nhà đầu tư thành lập để thiết kế, xây dựng, vận hành, quản lý công trình dự án và để thực hiện dự án khác. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật Đầu tư. Chủ đầu tư dự án BOT là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc do các thành viên góp vốn (các nhà đầu tư) thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất. Hiệu quả đầu tư: [16] Là toàn bộ kết quả của mục tiêu đề ra được đặc trưng bằng các tiêu thức có tính chất định tính thể hiện ở các loại kết quả đạt được và bằng các chỉ tiêu định lượng là hiệu số giữa các lợi ích đạt được và các chi phí bỏ ra của dự án.
Hiệu quả dự án đầu tư có thể phân loại như sau: * Phân loại về mặt định tính: - Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả xã hội, hiệu quả an ninh quốc phòng. - Theo quan điểm lợi ích: Hiệu quả của doanh nghiệp, hiệu quả của Nhà nuớc, hiệu quả của cộng đồng. - Theo phạm vi tác động: Hiệu quả trước mắt, hiệu quả lâu dài. - Theo mức độ trực tiếp: Hiệu quả nhận được trực tiếp từ dự án, hiệu quả nhận được gián tiếp.
* Phân loại về mặt định lượng: - Theo cách tính toán: Hiệu quả được tính theo số tuyệt đối, hiệu quả được tính theo số tương đối. - Theo thời gian tính toán: Hiệu quả tính cho 1 đơn vị thời gian, hiệu quả tính cho cả vòng đời dự án. Trang 19 - Theo độ lớn của chỉ tiêu xét: Hiệu quả được xem là đạt (hay có hiệu quả) so với trị số định mức quy định, hiệu quả được xem là không đạt (hay không hiệu quả) so với trị số định mức quy định. Phân tích kinh tế dự án đầu tư:[18] Là tập hợp phương pháp phân tích và tính toán khoa học xác định mức độ tác động của dự án (nhưng ở mức độ khác với phân tích tài chính) đến nền kinh tế quốc dân, cộng đồng xã hội, đến khu vực địa phương nơi xây dựng dự án, đến những lợi ích quốc gia khác.
Phân tích kinh tế sử dụng giá “mờ” để định lượng các chi phí và lợi ích. Có một số phương pháp phân tích kinh tế sau: - Phân tích chi phí-lợi ích: Phương pháp này các chi phí và lợi ích đều có thể định lượng được bằng tiền. - Phân tích chi phí-hiệu quả: Phương pháp này chi phí có thể định lượng được bằng tiền còn lợi ích không định lượng được bằng tiền. - Phân tích chi phí-tính thiết thực: Phương pháp này cả chi phí và lợi ích đều không định lượng được bằng tiền.
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích thường được sử dụng nhiều nhất. Hiện nay theo tiêu chuẩn 22TCN 268 – 2000 của ngành GTVT cũng hướng dẫn sử dụng loại phương pháp phân tích này.[17] Phân tích tài chính dự án đầu tư: Là tập hợp các hợp phương pháp phân tích và tính toán khoa học về dòng tiền chi ra và dòng tiền thu về trong suốt vòng đời của dự án. Mục tiêu là xác định các mức độ lợi nhuận về mặt tài chính của dự án. Phân tích tài chính sử dụng giá thực tế của thị trường.
Phân tích tài chính và phân tích kinh tế khác nhau cơ bản về quan điểm đánh giá. Phân tích tài chính phục vụ quan điểm thu lợi nhuận của Chủ đầu tư dự án còn phân tích kinh tế đứng trên quan điểm lợi ích của toàn bộ nền kinh tế và xã hội. Trang 20 Chi phí kinh tế - xã hội [16]: Chi phí kinh tế - xã hội là những khoản hao phí hay tổn thất mà nền kinh tế và cộng đồng xã hội phải gánh chịu khi thực hiện dự án. Lợi ích kinh tế - xã hội [16]: Là các khoản lợi ích mà Nhà nước, nền kinh tế quốc dân hay cộng đồng xã hội thu được từ kết quả tác động của dự án.
Đặc điểm về hình thức BOT( Building - Operation - Transfer ) xây dựng vận hành khai thác - chuyển giao và các ưu điểm về hình thức này[5] [6]: Hình thức BOT là hình thức được tổ chức áp dụng để thu phí trên các tuyến đường ô tô. Theo hình thức này chủ đầu tư ban đầu tự bỏ vốn để xây dựng công trình, sau đó họ tự quản lý khâu vận hành khai thác để thu hồi lại vốn và lợi nhuận. Cuối cùng, theo một thỏa thuận nào đó, sau một số năm nhất định chủ đầu sẽ giao lại cho chính quyền sở tại công trình đã xây dựng và vận hành nhưng đã hết quyền sử dụng của họ. Hình thức này thường được áp dụng cho các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật (ví dụ đường giao thông) để giải quyết vấn đề thiếu vốn, vấn đề phục vụ một nhu cầu nào đó của đất nước một cách kịp thời và nhanh chóng.
Đây là hình thức đầu tư mới hướng vào sử dụng nguồn vốn, nhân lực của khu vực dân doanh ở trong và ngoài nước, dựa trên nguyên tắc thu phí và các nguồn thu khác để hoàn vốn. Đây cũng là xu hướng để phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Hình thức BOT có thể là một phương thức tài trợ dự án, như sử dụng nguồn thu phát sinh từ quá trình kinh doanh công trình (đây là nguồn thu chính), nhằm thanh toán các khoản vay trước đó để xây dựng công trình và để có lãi. Vì vậy xây dựng dự án cần phải tính và chứng minh tính hiệu quả của dự án, tức là dự án có khả năng hoàn vốn và có lãi, tiếp tới phải tổ chức các điều kiện cần thiết để thực hiện dự án.
Trang 21 Hình thức đầu tư BOT đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng trong điều kiện hiện nay có tính vượt trội sau: - Nhà nước không cần bỏ vốn đầu tư, chỉ cần có cơ chế chính sách phù hợp thu hút, hấp dẫn các Nhà đầu tư là có những công trình được đầu tư theo định hướng phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước. Tính năng ưu việt nhất của phương thức này là huy động tối đa các nguồn vốn ngoài nhà nước vào việc xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, kinh tế- xã hội. Hay nói cách khác dự án BOT là sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, trong đó nguồn vốn và hiệu quả hoạt động của khu vực tư nhân được đem ra phục vụ lợi ích công cộng. - Nhà nước không cần can thiệp sâu vào quá trình đầu tư dự án, chỉ cần thực hiện chức năng quản lý, giám sát và như vậy giảm nhẹ gánh nặng về biên chế nhân sự của Nhà nước.