CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự hình thành và phát triển của Tài chính hành vi. Sự hình thành của tài chính hành vi: Tài chính hành vi là s? kFt hIp giữa lý thuyFt tâm lý học nhận thức và tâm lý học hành vi với các nguyên tắc tâm lý học và tài chính, thông thường nhằm lý giGi các quyFt định về kinh tF của con người. Tài chính hành vi là những có lĩnh v?c liên quan gần gũi, ứng dụng những nghiên cứu khoa học về nhận thức và xu hướng cGm xúc trên con người nhằm hiểu rP hơn về các quyFt định kinh tF, và làm cách nào mà con người gây Gnh hưởng lên thị trường giá cG, lIi nhuận và s? cOp phát các nguMn tài nguyên.
Phạm vi chủ yFu đưIc đề cập bao gMm s? hIp lý hoặc thiFu hụt của các nhân tố kinh tF. Các mô hình hành vi đặc trưng đưIc nhận biFt từ qua tích hIp tâm lý học và học thuyFt kinh tF tân cổ điển. Tài chính theo hành vi đã trở thành cơ sở lý thuyFt cho các phân tích kỹ thuật. Các phân tích hành vi phần lớn đề cập đFn Gnh hưởng của các quyFt định thị trường, cũng như những l?a chọn chung, khởi điểm của các quyFt định thuộc về kinh tF học và các xu hướng tương t? nhau.
Tài chính hành vi cố gắng giGi quyFt các mâu thuẫn này thông qua việc giGi thích d?a trên hành vi của con người, ở cG mức độ cá nhân và theo nhóm. Ví dụ: -Tài chính hành vi giúp giGi thích vì sao và làm thF nào thị trường trở nên không hiệu quG. Mặc dù gặp phGi s? phGn đối ban đầu từ những người theo quan điểm truyền thống, tài chính hành vi đang ngày trở thành một phần của tài chính chuẩn tắc. -Tài chính hành vi còn xác định và tìm hiểu lí do tại sao mọi người lại đưa ra l?a chọn nào đó, giG định rằng cOu trúc thông tin và đặc điểm của những người tham gia thị trường Gnh hưởng một cách có hệ thống đFn các quyFt định đầu tư cũng như kFt quG thị trường.
4 GiG định cơ bGn của cOu trúc tài chính hành vi là cOu trúc thông tin và các đặc tính của người tham gia thị trường Gnh hưởng một cách có hệ thống tới quyFt định đầu tư của cá nhân cũng như tỷ suOt sinh lIi thị trường. - Khái niệm tài chính hành vi: Tài chính hành vi là một lĩnh v?c thuộc kinh tF học hành vi, đề xuOt các lí thuyFt d?a trên tâm lí học để giGi thích s? kiện bOt thường trên thị trường chứng khoán, chẳng hạn như s? tăng hoặc giGm giá cổ phiFu. Con người thường xuyên xK lý thông tin bằng cách sK dụng kinh nghiệm và bộ lọc cGm xúc, những quá trình này Gnh hưởng đFn các nhà hoạch định tài chính, theo đó con người thường hành động một cách có vẻ không hIp lý, liên tục vi phạm phGi các khái niệm truyền thống về s? e ngại rủi ro và mắc phGi những sai lầm có thể đoán trước trong d? báo của mình. Các vOn đề này rOt phổ biFn trong các quyFt định của nhà đầu tư , các thị trường tài chính hay các hành vi của ban quGn lí công ty.
Bởi những quyFt định kém tối ưu như vậy có tác động khác nhau đFn hiệu quG của thị trường vốn, tài sGn cá nhân và kFt quG đầu tư của công ty. Qua đó có đưIc 4 nguyên lý cơ bGn về lý thuyFt tài chính hành vi: + Lý thuyết kỳ vọng Nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán có khuynh hướng xem trọng khG năng bù đắp một khoGn lỗ hơn là kiFm đưIc nhiều lIi nhuận. Trong trường hIp khoGn đầu tư có khG năng mang lại lIi nhuận, họ thích nắm chắc ngay khoGn lIi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiFp tục đầu tư để thu đưIc nhiều lIi nhuận hơn trong tương lai. Trong trường hIp ngưIc lại, khi khoGn đầu tư có nguy cơ thua lỗ thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tình hình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bOt chOp rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rOt lớn.
Căn cứ vào thông tin chiều hướng tích c?c trên thị trường, các NĐT mua cổ phiFu và sẽ nhanh chóng tiFn hành bán cổ phiFu đó khi giá tăng và đạt đưIc lIi nhuận mong muốn mà không phân tích khG năng tăng thêm lIi nhuận. Bởi lẽ, họ tin rằng giá cổ phiFu hiện đã phGn ánh đầy đủ thông tin kỳ vọng. + Sự ghét rủi ro 5 Tính chOt bOt cân xứng trong tâm lý NĐT giữa những giá trị mà họ kỳ vọng vào lIi nhuận và thua lỗ, chính là s? ghét rủi ro. Nhiều bằng chứng th?c nghiệm đã chỉ ra rằng, biFn cố thua lỗ thì đưIc cân nặng gOp nhiều lần so với biFn cố lIi nhuận.
Chẳng hạn như NĐT có xu hướng duy trì vị thF lỗ với hy vọng rằng giá cuối cùng sẽ phục hMi. S? ghét rủi ro có thể giGi thích cho hành vi của NĐT giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán lời quá sớm. + Tính toán bất hợp lý NĐT có xu hướng chia tách các quyFt định vào các “tài khoGn Go” riêng trong trí não thay vì kFt hIp chúng lại thành một thể thống nhOt và thường xK lý các quyFt định này độc lập, không chú ý đFn tính tương quan của chúng. Cũng từ đó, họ đưa ra các quyFt định nhìn tưởng là hIp lý, mà thật ra lại sai lầm.
SK dụng tính toán bOt hIp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giGi thích các hiện tưIng như sI thua lỗ, l?a chọn nghịch với sở thích và hiệu ứng phân bổ tài khoGn, thể hiện cơ bGn ở chỗ người ta sẵn sàng th?c hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không th?c hiện lệnh dừng lỗ khi xuOt hiện những khoGn lỗ nhỏ. Hiệu ứng phân bổ tài khoGn này cũng có thể đưIc lý giGi bằng s? t? lừa dối, sI rằng nFu bán mà bị lỗ thì sẽ cGm thOy bGn thân có quyFt định đầu tư kém, hay s? tiFc nuối, tức lỡ bán rMi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoGn cũng giúp lý giGi một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lưIng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giGm giá tại các thị trường lớn. + Sự tự tin thái quá NĐT thường cho rằng, bGn thân họ tốt hơn những người khác, thường phóng đại những hiểu biFt của mình. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với các NĐT quá t? tin, họ giao dịch nhiều hơn những NĐT khác.
Trạng thái quá t? tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiFn các NĐT sẵn sàng về quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khGo thêm từ những nhà đầu tư khác. 6 T? tin thái quá cũng làm tăng s? không đMng nhOt trong niềm tin của NĐT. NĐT quá t? tin luôn quan niệm hành động của họ ít rủi ro hơn các NĐT khác cGm nhận. Nhiều khi những NĐT quá t? tin hiểu sai giá trị thông tin mà họ nhận đưIc, không những tính xác th?c mà còn sai cG ý nghĩa của thông tin.
Tính t? tin thái quá mà một người có càng lớn thì rủi ro càng cao, danh mục đầu tư rOt ít đa dạng hóa và chỉ tập trung vào những cổ phiFu mà họ tin tưởng. Sự phát triển của tài chính hành vi. Tài chính hành vi - Behavioral Finance. Tài chính hành vi là một lĩnh v?c thuộc kinh tF học hành vi, đề xuOt các lí thuyFt d?a trên tâm lí học để giGi thích s? kiện bOt thường trên thị trường chứng khoán, chẳng hạn như s? tăng hoặc giGm giá cổ phiFu.
Nền tGng của tài chính chuẩn tắc d?a trên giG định rằng những người tham gia thị trường các tổ chức và thậm chí cG thị trường đều là hIp lý tính trung bình những người này đưa ra các quyFt định không nghịch là và tối đa hòa hIp với lIi ích của họ. Theo thời trang bOt kỳ cá nhân nào đưa ra các quyFt định kém tối ưu đều sẽ phGi nhận tỷ suOt sinh lIi thật thOp mọi người tìm tòi để đưa ra các quyFt định tốt hơn hoặc có thể là bỏ thị trường. ĐMng thời các sai lầm của những người tham gia thị trường không mang tương quan với nhau vì thF chúng không đủ sức Gnh hưởng đFn giá cG thị trường. S? hIp lý này tôi những người tham gia thị trường đưa đFn một trong những lý thuyFt kinh điển trong tài chính chuẩn tắc.
Và những người tham gia thị trường hIp lý đã phGn ánh tOt cG các thông tin đưIc biFt và những xác suOt liên quan đFn s? không chắc chắn trong tương lai và giá hiện hành do đó giá cG của thị trường nói chung là đúng và những thay đổi trong giá vì vậy liên quan đFn việc nhận thức thông tin trong ngắn hạn. Mặc dù mô hình tài chính truyền thống có vẻ hIp lý trên khía cạnh quy mô thị trường nó bao hàm những ràng buộc không th?c tF và hành vi của con người nghiên cứu về những phương pháp quyFt định d?a vào kinh nghiệm của nhiều thập niên và tìm thOy rOt nhiều những lệch lạc và giới hạn trong nguMn nhận thức. 7 Trong thập niên 60 và 70 một số nhà tâm lý học bắt đầu kiểm định các quyFt định về kinh tF Slovie (1969 - 19720) nghiên cứu những nhà môi trường môi giới chứng khoán và nhà đầu tư Tverski và Kahneman (1974) trình bày chi tiFt phương pháp kinh nghiệm và những vOn đề lệch lạc xGy ra khi đưa ra những quyFt định trong s? không chắc chắn. S? khởi đầu của các phân tích tài chính d?a vào tâm lý học này trùng khớp với s? xuOt hiện của rOt nhiều kFt quG nghiên cứu th?c nghiệm bắt đầu với hiệu ứng doanh nghiệp nhỏ đã làm dOy lên s? nghi ngờ về một số nền tGng trọng điểm trong tài chính chuẩn tắc.
Ngày nay số lưIng các nghiên cứu và bài viFt trong tài chính hành vi đã khGo sát việc ra các quyFt định trong kinh tF và tài chính suốt nhiều thập kỷ những nguyên tố tâm lý học đưIc tiFn hành theo những cách thức về cơ bGn khác với các nghiên cứu tài chính. Nghiên cứu tâm lý học thiFt lập những khGo sát hoặc các thí nghiệm để nhận diện s? thay đổi trong các hành vi mà nhà nghiên cứu muốn quan sát và kiểm soát điểm. Nội dung trong tài chính hành vi. - Phương pháp kinh nghiệm: Thường đưIc gọi là quy tắc ngón tay cái có nghĩa là những phương pháp giúp con người cần nguMn những thứ tốt hơn mức cần thiFt để giGi quyFt vOn đề.