chương 1, bao gồm lí do chọn đề tài, tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài. Tiếp theo chương 2, tác giả sẽ trình các khái niệm, lý thuyết về hành vi bầy đàn, nguyên nhân và các dạng hành vi bầy đàn. Theo đó tác giả cũng tổng hợp và sơ lược các nghiên cứu trước để từ đó thấy rõ khoảng trống và tính mới của bài nghiên cứu. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LÝ THUYẾT NỀN TẢNG LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI BẦY ĐÀN 2.1 Lý thuyết tài chính hành vi Lý thuyết tài chính chuẩn tắc hiện nay dựa trên 2 nền tảng là lý thuyết định giá tài sản và giả thuyết thị trường hiệu quả (Muharam, Dharmawan, Najmudin & Robiyanto, 2021).
Giả thuyết thị trường hiệu quả cho rằng giá của chứng khoán trên thị trường tài chính, đều được phản ánh đầy đủ mọi thông tin có sẵn. Vì thế, tất cả chứng khoán đều được định giá đúng giá trị nội tại của chính nó. Với lý thuyết thị trường hiệu quả, con người với giả định là hoàn toàn hợp lý, logic và độc lập, họ thu thập các thông tin và đưa ra các quyết định nhằm tối đa hóa mức hữu dụng (Ackert & Deaves, 2010). Các nhà đầu tư hoàn toàn không bối rối bởi các thông tin họ nhận được và không bị phân tâm bởi chính cảm xúc của họ.
Và dẫu các quyết định có phi lý, thì các sai lầm này là ngẫu nhiên, vì thế, điều này sẽ không ảnh hưởng đến giá cả (Fama, 1965). Hơn thế nữa, nếu các sai lầm của nhà đầu tư có tương quan nhau thì các nhà đầu tư thông minh sẽ tận dụng cơ hội này để kinh doanh chệch lệch giá, đưa giá chứng khoán về đúng giá trị nội tại của nó. Tóm lại, theo Ackert & Deaves (2010), các mô hình tài chính truyền thống có nền tảng kinh tế học tân cổ điển dựa trên ba trụ cột chính: các nhà đầu tư luôn lý trí; sai lệch giữa các nhà đầu tư là không tương quan nhau; không có giới hạn kinh doanh chênh lệch giá. Tuy nhiên, các sự kiện thực tế trên thị trường chứng khoán như giá cả biến động không liên quan đến sự xuất hiện thông tin mới, hiệu ứng tháng giêng,.
đã mang đến thách thức với các nhà nghiên cứu về lý thuyết tài chính chuẩn tắc. Đây cũng chính là một trong các nguyên do dẫn đến việc giảm mức độ phổ biến của lĩnh vực tài chính truyền thống (Baker & Ricciardi, 2014). Trái lại, tài chính hành vi chủ yếu nghiên cứu các quyết định bất hợp lý của con người trên thị trường, mà theo Pompian (2006) cho rằng đây là ngành khoa học giúp giải đáp và nâng cao nhận thức về mẫu hình hành vi của các nhà đầu tư. Điều này có 11 nghĩa, thay vì đề xuất những điều nhà đầu tư lý trí nên làm dưới điều kiện không chắc chắn của thị trường, lĩnh vực tài chính hành vi được phát triển dựa trên việc quan sát các hiện tượng tài chính và tìm kiếm các nguyên nhân của chính nó (Ojala, 2022).
Như vậy, lời giải đáp đằng sau các quyết định của nhà đầu tư, không còn dựa trên sự hoàn toàn hợp lý mà theo Suganda và các tác giả (2018), nó đến từ sự ưa thích, niềm tin sai lầm và những lệch lạc. Khi đó, dưới ảnh hưởng của niềm tin và cảm xúc, giá cả của tài sản sẽ lệch khỏi giá trị nội tại (Vieira & Pereira, 2014). Theo De Bondt và các tác giả (2008), lý thuyết tài chính hành vi có ba trụ cột chính là cảm tính (sentiment), sự ưa thích của nhà đầu tư (behavioral preferences) và giới hạn trong kinh doanh chêch lệch giá (limits to arbitrage). Schulmerich (2012) đã ghi nhận một vài lệch lạc mà tác động đến quá trình ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân và tổ chức bao gồm sự quá tự tin, bất hòa nhận thức, kinh nghiệm, e ngại sự mất mát và tâm lý bầy đàn.
Debondt và các tác giả (1997) cho rằng yếu tố cảm xúc là một trong những nhân tố có tác động đến quá trình ra quyết định của nhà đầu tư, mà cảm tính lại được định nghĩa là tập hợp cảm xúc bao gồm tích cực và tiêu cực (Fairchild, 2014). Khi con người trải qua cảm xúc tích cực như lạc quan, hạnh phúc và hi vọng, họ có xu hướng bỏ qua việc phân tích kĩ lưỡng. Trong khi cảm xúc tiêu cực như lo sợ, bi quan lại gắn liền với việc con người hạn chế chấp nhận rủi ro (Yuen và Lee, 2003) và tìm kiếm sự an toàn trong việc bảo toàn tài sản (Kavanagh, 2005). Trong bài nghiên cứu của mình, Al-Hajieh (2016) đã cho rằng, họ - những người tham gia thị trường không chỉ trao đổi thông tin mà còn bị tác động bởi cảm xúc lẫn nhau.
Và chính những sự kiện tiêu cực hoặc tích cực trên thị trường sẽ tác động đến cá nhân riêng lẻ khi họ đưa ra các quyết định đầu tư. Theo Al-Hajieh (2016), cảm xúc có thể tạo ra xu hướng của thị trường tài chính và khiến các nhà đầu tư đưa ra cùng một quyết định và dĩ nhiên, đây là yếu tố kích thích tính bầy đàn trên thị trường. Như vậy, có thể thấy, từ sự tương tác ở cộng đồng, cảm xúc bắt đầu lây lan giữa các cá nhân và hình thành cảm xúc chung trên thị trường. Theo Shiller (1984), lúc đó chính cảm tính đang chi phối giá trên thị trường.
12 Về sự ưa thích của nhà đầu tư, một trong những mô hình về sự ưa thích dựa trên hành vi nổi tiếng nhất chính là lý thuyết triển vọng (prospect theory), được phát triển bởi Kahneman và Tversky (1979). Các tác giả cho rằng, khi ra quyết định con người thích đơn giản hóa lựa chọn của họ, điều này ngụ ý rằng không phải họ tìm kiếm mức hữu dụng cao nhất mà chỉ cần ở mức thỏa đáng nhất (satisficing). Theo Sebora & Cornwall (1995), điều này hoàn toàn khác với lý thuyết hữu dụng kì vọng (expected utility theory), bởi theo lý thuyết hữu dụng kì vọng, sự ưa thích của con người khi ra quyết định là nhất quán, có trật tự, và không ảnh hưởng bởi bối cảnh và cách sắp xếp của những sự lựa chọn. Suy cho cùng, con người lý trí sẽ đưa ra quyết định tối ưu nhằm tối đa hóa mức hữu dụng của họ.
Thế nhưng, theo lý thuyết triển vọng, con người e ngại sự mất mát và thua lỗ, họ đánh giá mất mát sẽ lớn hơn thua lỗ dù cho hai yếu tố tương tự nhau về độ lớn. Và khẩu vị rủi ro của họ cũng thay đổi phụ thuộc vào bản chất của triển vọng, nghĩa là, điều họ quan tâm không phải mức tài sản cuối cùng mà chính là sự thay đổi trong mức tài sản. Cuối cùng, giới hạn kinh doanh chênh lệch giá đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết tài chính hành vi. Theo Thaler và Barberis (2002), các nhà kinh doanh chênh lệch giá dường như không thể tìm kiếm được lợi nhuận từ những xáo trộn thị trường gây ra bởi những nhà đầu tư phi lý trí.
Điều đó xuất phát từ việc tồn tại rủi ro cơ bản, rủi ro từ các nhà đầu tư bất hợp lý (noise trader), và chi phí thực hiện. Như vậy, dưới tác động của cảm xúc, con người dường như không thể hoàn toàn hợp lý để tối ưu hóa các lựa chọn của mình. Trong điều kiện không chắc chắn của thị trường cũng như giới hạn trong khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin, họ có xu hướng sử dụng các đường tắt (shortcut) hay tự nghiệm nhằm tối thiểu hóa thời gian, kiến thức và sự tính toán (Ackert & Deaves, 2010). Sự lây lan cảm xúc trong quá trình tương tác trên thị trường, và khi các nhà đầu tư có cùng cảm tính, nó dần hình thành cảm xúc chung trên thị trường.
Theo Al-Hajieh (2016), thị trường chứng khoán được xem như chỉ số trực tiếp về cảm xúc, chứ không hoàn toàn chỉ là sự phản ảnh thông tin. Và lẽ dĩ nhiên, các lệch lạc này sẽ trở thành sai lầm hệ thống nếu các nhà đầu tư cùng đưa ra các quyết định tương tự trong cùng một thời điểm. Hơn thế nữa, dưới 13 rào cản của chi phí và rủi ro trên thực tế, thị trường luôn tồn tại giới hạn kinh doanh chênh lệch giá, lẽ đó, thị trường bao trùm bởi cảm tính sẽ rất dễ rơi vào khủng hoảng.2 Cơ sở lý thuyết về hành vi bầy đàn 2.1 Khái niệm về hành vi bày đàn Banerjee (1992) định nghĩa hành vi bầy đàn diễn ra khi các cá nhân làm theo những gì người khác làm, ngay cả khi các thông tin riêng của họ đề xuất một quyết định khác. Những nghiên cứu đầu tiên về hành vi bầy đàn được thực hiện bởi Bikhchandani, Hirshleifer, & Welch (1992), Banerjee (1992).
Các tác giả miêu tả hành vi bầy đàn bắt nguồn từ việc nếu một số lượng lớn các nhà đầu tư cùng chọn 1 phương án, thì các nhà đầu tư sau sẽ bỏ qua thông tin riêng của bản thân và bắt đầu bắt chước người liền trước. Patterson và Sharma (2007) cho rằng hành vi bầy đàn diễn ra khi một nhóm nhà đầu tư cùng mua cổ phiếu nhất định trong cùng một khoảng thời gian. Hành vi bầy đàn đã được chứng minh tồn tại trong xã hội loài người từ thời xa xưa, khoảng từ năm 1200 trước Công nguyên (Lao & Singh, 2011). Mà theo Deepak & Devendra (2022), nó bắt nguồn từ nhu cầu về sự đồng thuận của con người, bởi họ không muốn trông quá khác biệt so với mọi người, nơi mà họ tin rằng tương đồng với người khác dường như là điều đúng đắn.
Tương tự, Chang, Cheng & Khorana (2000) mô tả hành vi bầy đàn toàn thị trường (market wide herding) là quá trình mà các nhà đầu tư đưa ra quyết định dựa theo sự đồng thuận chung trên thị trường, bỏ qua niềm tin riêng của bản thân. Sự đồng thuận chung trên thị trường có thể được phản ánh thông qua tỷ suất sinh lời của thị trường hoặc các yếu tố vĩ mô khác. Như vậy, hành vi bầy đàn trong lĩnh vực tài chính được cho là các nhà đầu tư lờ đi các phân tích của bản thân, tin tưởng đi theo các quyết định của người khác và bắt chước đám đông. Hay nói cách khác, tâm lý bầy đàn chính là sự tương quan trong các quyết định giao dịch xuất phát từ việc quan sát giữa những người tham gia thị trường.