MỞ ĐẦU Ung thƣ trực tràng là bệnh lý hay gặp trong ung thƣ đƣờng tiêu hóa, đứng hàng thứ hai sau ung thƣ dạ dày và chiếm 1,4 % trong tổng số ung thƣ. Bệnh tiến triển tƣơng đối chậm, di căn muộn, nếu phát hiện sớm, điều trị kịp thời và triệt để thì tỷ lệ sống trên 5 năm đạt 60-80% [26]. Tuy nhiên bệnh thƣờng đƣợc phát hiện ở giai đoạn muộn khi đã di căn hay biến chứng, do đó hiệu quả điều trị rất hạn chế. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 650.000 ngƣời đƣợc chẩn đoán mắc bệnh ung thƣ đại trực tràng và có khoảng 150.000 ngƣời chết vì căn bệnh này, đây là loại ung thƣ nguy hiểm đứng hàng thứ ba gây tử vong trên thế giới và đứng hàng thứ hai gây ra tử vong tại Mỹ.
Tại Việt Nam, bệnh này chiếm khoảng 15% trong số các loại ung thƣ và đang gia tăng một cách rõ rệt. Gần đây, do sự thay đổi trong thói quen ăn uống giàu chất đạm, ít chất xơ, lạm dụng thức ăn nhanh khiến ung thƣ đại trực tràng ngày càng phổ biến. Tuổi mắc căn bệnh chết ngƣời này ngày càng trẻ hóa, nhiều trƣờng hợp mới 18 - 20 tuổi, thậm chí có trẻ mới 12 đã mắc ung thƣ đại trực tràng [30]. Trên thế giới ung thƣ đại trực tràng luôn đƣợc các nhà sinh y học quan tâm, có nhiều nghiên cứu genomics, transcriptomics, proteomics đã đƣợc tiến hành.
Mục tiêu của những nghiên cứu này nhằm tìm ra những chỉ thị sinh học cho việc chẩn đoán bệnh sớm hơn để điều trị kịp thời. Tuy nhiên, đến nay, mới chỉ có carcinoembryonic antigen (CEA) là chỉ thị sinh học thƣờng dùng cho chẩn đoán bệnh cho các bệnh nhân trong giai đoạn III, IV, nhƣng chi phí cho xét nghiệm còn rất tốn kém[38].Vì vậy, việc tìm ra những chỉ thị mới dễ nhận biết và có thể phát hiện chính xác giai đoạn ung thƣ là cần thiết. Genomics và proteomics là những lĩnh vực nghiên cứu cho phép xác định các chỉ thị đặc trƣng cho bệnh, phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị và tìm nguyên nhân bệnh. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích biến đổi của gen CXCL12 ở bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng”, nhằm mục tiêu: 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Phạm Thị Bích – K18 Sinh học 1.
Nghiên cứu đa hình gen CXCL12 ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng: - Xác định đƣợc tính đa hình của gen CXCL12 ở bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng, so sánh với các mẫu đối chứng. - Đánh giá mức độ liên quan giữa tính đa hình của gen CXCL12 với các đặc điểm lâm sàng của bệnh ung thƣ đại trực tràng ở Việt Nam. Phân tích tình trạng methyl hóa promoter của gen CXCL12 ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng: - Xác định đƣợc sự phân bố của đảo CpG và mật độ nucleotide CpG trong các đảo CpG thuộc vùng promoter của gen CXCL12. - Xác định đƣợc tình trạng methyl hóa của 1 đảo CpG thuộc vùng promoter của gen CXCL12.
- Đánh giá mối liên quan giữa tình trạng methyl hóa gen CXCL12 với các đặc điểm bệnh học lâm sàng của ung thƣ đại trực tràng ở ngƣời Việt Nam. Đề tài đƣợc thực hiện tại phòng thí nghiệm Proteomics và Sinh học cấu trúc thuộc Phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzyme và Protein, Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Phạm Thị Bích – K18 Sinh học Chƣơng 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌM HIỂU VỀ UNG THƢ ĐẠI TRỰC TRÀNG 1.
Khái quát về ung thƣ Ung thƣ (u ác tính) là một loại bệnh của các tế bào, biểu hiện là sự phát triển không bình thƣờng của các tế bào, tăng sinh nhanh chóng về số lƣợng một cách không kiểm soát đƣợc và tế bào không tuân theo các cơ chế kiểm soát và phát triển của cơ thể [33]. Trong một số trƣờng hợp, chúng di căn (lan tràn tới các cơ quan ở xa) (bảng 1). Phân biệt hai khái niệm u lành tính và ung thƣ theo đặc điểm sinh bệnh học U lành tính U ác tính (ung thƣ) - Tế bào ít biệt hóa - Tế bào biệt hóa cao - Phân bào nhanh, không tuân theo sự kiểm - Phân bào ít và chậm soát của chu trình tế bào - Không xâm lấn xung quanh - Xâm lấn xung quanh - Có vỏ bọc - Không có vỏ bọc - Không hoại tử - Thƣờng hoại tử - Rất ít tái phát và ít ảnh hƣởng tới cơ thể - Ảnh hƣởng lớn tới cơ thể Ung thƣ không phải là một bệnh. Bệnh này là một nhóm của hơn 100 bệnh khác nhau.
Ung thƣ có thể có nguồn gốc từ bất cứ tế bào nào của cơ thể và có rất nhiều loại khác nhau trong mỗi vùng của cơ thể. Hầu hết các bệnh ung thƣ đƣợc đặt tên theo loại tế bào hoặc cơ quan nơi chúng phát sinh. Nếu một khối ung thƣ lan rộng ra (di căn), thì khối u mới mang tên giống với tên của khối u nguồn gốc đầu tiên [33]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Phạm Thị Bích – K18 Sinh học 1.
Ung thƣ đại trực tràng là gì Ung thƣ đại trực tràng (UTĐTT) là căn bệnh phổ biến, đứng hàng đầu trong ung thƣ đƣờng tiêu hóa tại các nƣớc Âu Mỹ. Tại Việt Nam và các nƣớc châu Á, UTĐTT đứng thứ hai trong ung thƣ đƣờng tiêu hóa sau ung thƣ dạ dày. Ở nƣớc ta, mỗi năm có khoảng hơn 7.300 ngƣời mới mắc và hơn 4.100 ngƣời tử vong do ung thƣ đại trực tràng [34]. Ung thƣ đại trực tràng là ung thƣ biểu mô phổ biến hiện nay, bao gồm ung thƣ đại tràng và ung thƣ trực tràng.
Đại tràng là phần ruột lớn hình chữ N gồm đoạn lên, đoạn ngang và đoạn xuống. Trực tràng là phần ruột thẳng nối giữa đại tràng và hậu môn. Ung thƣ thƣờng xảy ra ở đoạn nối giữa đại tràng và trực tràng (hình 1). Ung thƣ đại tràng và ung thƣ trực tràng thƣờng có liên hệ với nhau và khó có thể xác định ung thƣ nào xảy ra trƣớc, ung thƣ nào xảy ra sau, vì thế chúng đƣợc gọi chung là ung thƣ đại trực tràng [35].
Hình ảnh đại trực tràng và polyp đại tràng nội soi [35] 1. Các tác nhân gây ung thƣ đại trực tràng Các loại ung thƣ khác nhau có tác nhân gây bệnh khác nhau. Trong ung thƣ đại trực tràng thì có rất nhiều tác nhân và các nghiên cứu cho thấy các tác nhân sau đây có thể gây nguy cơ bị bệnh ung thƣ đại trực tràng: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Phạm Thị Bích – K18 Sinh học Polyp đại trực tràng là bệnh khá thƣờng gặp, đây là những khối u lồi vào trong lòng đại trực tràng, chúng đƣợc hình thành do sự tăng sinh quá mức của niêm mạc đại trực tràng. Triệu chứng của bệnh thƣờng nghèo nàn và không đặc hiệu.
Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt nếu xác định rõ và loại bỏ những polyp bằng thủ thuật cắt polyp qua nội soi sẽ làm giảm thiểu đáng kể nguy cơ polyp trở thành ung thƣ. Tác nhân lối sống: Những ngƣời có thói quen hút thuốc, hoặc có chế độ ăn uống giàu chất mỡ và ít trái cây, rau quả sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thƣ đại trực tràng cao hơn vì nó có thể gây nên những biến đổi trong tế bào biểu mô trực tràng, gây viêm loét đại tràng và từ đó có thể dẫn tới ung thƣ đại trực tràng. Bệnh Crohn hoặc chứng lở ruột già: Ngƣời bị chứng bệnh gây viêm đại tràng (nhƣ chứng lở ruột già hoặc bệnh Crohn) trong nhiều năm sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao. Bệnh sử ung thư cá nhân: Ngƣời từng bị ung thƣ đại trực tràng có thể sẽ lại bị ung thƣ đại trực tràng lần thứ hai.
Đồng thời, phụ nữ có tiền sử ung thƣ buồng trứng, dạ con, hoặc ung thƣ vú, sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thƣ đại trực tràng cao hơn. Bệnh sử ung thư trong gia đình: Trong khi phần lớn các trƣờng hợp ung thƣ đại trực tràng là các khối u rời rạc thì có rất ít các trƣờng hợp xảy ra do đột biến gen di truyền. Phổ biến nhất là hội chứng polyp u tuyến theo dòng họ (familial adenomatous polyposis - FAP) và hội chứng ung thƣ ruột kết không polyp di truyền (hereditary nonpolyposis colon cancer - HNPCC). Dạng ung thƣ này thƣờng biểu hiện từ rất sớm (trung bình dƣới 45 tuổi) [20].
Khối u FAP chủ yếu nằm ở vùng ngoại biên (bên trái) trong khi HNPCC chủ yếu nằm ở vùng đầu gần (bên phải) của đại tràng. Khi có thành viên trong gia đình đƣợc chẩn đoán là mắc ung thƣ đại trực tràng thì nguy cơ các thành viên khác mắc căn bệnh này cao gấp nhiều lần so với bình thƣờng, phụ thuộc nhiều vào số thành 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Phạm Thị Bích – K18 Sinh học viên mắc bệnh và độ tuổi mắc bệnh. Thực tế, các nghiên cứu cho thấy phải có tới 20 đến 25% các bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng có tiền sử gia đình mắc căn bệnh này. Các hệ thống phân loại giai đoạn ung thƣ đại trực tràng [39] Phân loại Duke cho ung thƣ trực tràng Năm 1932, Cuthbert E.
Dukes, một bác sĩ giải phẫu bệnh ở bệnh viện St.Mark, đã đƣa ra một hệ thống phân loại giai đoạn cho ung thƣ trực tràng. Phân loại đƣợc chia làm 3 giai đoạn: - Dukes A: khối u giới hạn ở thành trực tràng. - Dukes B: những khối u đã vƣợt thành trực tràng đến những cơ quan cạnh trực tràng. - Dukes C: những khối u đã di căn đến hạch lympho vùng.
Phân loại TNM (Tumor, Node, Metastasis) Phân loại này đƣợc đƣa ra vào năm 1954 bởi AJCC (American Joint Committee on Cancer) và IUAC (International Union Against Cancer) dựa trên những dữ kiện lâm sàng và bệnh học. Phân loại TNM thƣờng dùng để dự báo tỉ lệ sống sót 5 năm của bệnh nhân ung thƣ trực tràng. Phân loại TNM cho ung thƣ đại trực tràng U nguyên phát (T): Tx – không xác định đƣợc u. T0 – không có bằng chứng của khối u.
Tis – u tại chỗ (niêm mạc). T1 – u xâm lấn lớp dƣới niêm mạc. T2 – u xâm lấn thanh mạc. T3 – u xuyên qua thanh mạc vào lớp dƣới thanh mạc hoặc vào các mô xung quanh đại tràng hay trực tràng.
T4 – U xâm lấn trực tiếp các cơ quan khác hoặc xuyên vào lớp phúc mạc tạng. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.