Chương 1 nêu vấn đề và lý do lựa chọn đề tài, qua đó trình bày mục tiêu và hướng nghiên cứu của đề tài. Tổng quan về các công trình, bài báo đã nghiên cứu trước đây liên quan đến chủ đề về phân tích động lực học của bể nước ngầm chịu tải trọng động và động đất được sơ lược trong chương 2. Chương 3 trình bày cơ sở lý thuyết về phương trình dao động của sóng chất lỏng, về dao động riêng của chất lỏng, điều kiện biên của bể chứa chất lỏng trong phân tích kết cấu. Ngoài ra, phần mềm ANSYS công cụ sử dụng cho Luận văn này cũng được trình bày trong chương 3.
Chương 4 của luận văn phân tích các ví dụ số, đánh giá các thông số về chu kỳ dao động riêng và tần số dao động riêng của bể chứa nước ở các mực nước khác nhau, ứng xử động lực học của bể nước với nhiều tình huống và tải trọng khác nhau được trình bày. Cuối cùng chương 5 nêu kết luận rút ra từ luận văn, đánh giá được ứng xử của kết cấu trong không gian chịu tác động của tải điều hòa và động đất, sự ảnh hưởng của thông số chiều cao mực nước trong kết cấu bể chứa nước ngầm và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo cho mô hình bể chứa nước.1 GIỚI THIỆU CHƯƠNG Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về sự tương tác giữa chất lỏng và thành bể, ảnh hưởng của nước trong bể chứa nước chịu tác động của gia tốc nền động đất đến phân tích kết cấu. Qua đó cho thấy được tầm quan trọng của sự tương tác này, ảnh hưởng của sự tương tác giữa chất lỏng và thành bể lên nội lực, chuyển vị của kết cấu nói chung. Nội dung cũng đề cập được các phương pháp nghiên cứu, các mô hình phân tích số trong các phần mềm thông dụng hiện nay làm tiền đề để khảo sát, phân tích bể chứa nước ngầm chịu tải trọng động, đó cũng là nội dung chính của luận văn này.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TƯƠNG TÁC CHẤT LỎNG - KẾT CẤU BỂ Sự tương tác giữa chất lỏng và thành bể, ảnh hưởng của chuyển động nước trong bể chứa nước ngầm là một trong những điểm được nhấn mạnh trong luận văn.
Các nghiên cứu trước đây thường bỏ qua tính chất này để đơn giản trong tính toán bằng cách giả thiết thành bể tuyệt đối cứng giúp tiện lợi cho việc thiết kế, tuy nhiên đã có những tác hại không nhỏ xảy ra trong thực tế do sự tương tác này. Những hư hỏng kết cấu xuất phát từ sự đơn giản hóa đó trở thành mục tiêu để tương tác chất lỏng thành bể được khảo sát trong luận văn. Các nhà khoa học phát triển ba hướng nghiên cứu chính về chuyển động của chất lỏng trong bể là hướng phân tích kiểu Lagrangian, phân tích kiểu Eulerian hoặc kết hợp cả hai hướng trên. Hầu hết các nghiên cứu trước thập niên 1980 chủ yếu tập trung vào việc phân tích động lực của sóng chất lỏng sao cho cung cấp cho kỹ sư một công cụ đơn giản nhưng đủ độ chính xác để thiết kế bể chứa.
Bằng cách giả thiết rằng bể chứa chất lỏng là tuyệt đối cứng, chất lỏng bên trong được xem như dao động đồng thời với 7 bể và bỏ qua ảnh hưởng được tạo ra do sự tương tác của Chất lỏng - Thành cho nên sơ đồ tính rất đơn giản nhằm tiện cho việc thiết kế nhanh chóng các bể chứa nước hay xăng dầu vào thời điểm đó (Housner, 1967) [20]. Tuy nhiên, sau này do các hư hỏng của bể khi công trình trải qua động đất đã làm động lực thúc đẩy các kỹ sư thiết kế và các nhà nghiên cứu phải xem xét lại các giả thiết trước đây. Bởi vì, khi dao động trong bể, chất lỏng không dao động đồng thời với bể mà toàn bộ phần chất lỏng được chia ra làm hai phần, phần chất lỏng bên dưới thì dao động đồng thời với bể còn phần bên trên dao động tách rời so với bên dưới và phần đó được gọi là “sóng chất lỏng bề mặt” (Sloshing), phần sóng chất lỏng bề mặt này dao động không những không đồng thời với phần chất lỏng bên dưới mà còn gây ra tương tác giữa chất lỏng – thành bể dẫn đến sự thay đổi đặc trưng động lực học của bể và ngoài ra còn tiêu tán một phần năng lượng kích thích thông qua sự tương tác này. Yozo Fujino (1992) [21] thiết lập mô hình toán cho phân tích TLD với bể chứa chất lỏng có mực nước nông và có xét đến khả năng xuất hiện của hiện tượng sóng vỡ bằng cách đưa thêm vào 2 thông số xác định từ thí nghiệm bàn lắc và có kể đến ảnh hưởng của tương tác chất lỏng - thành bể.
Nghiên cứu về sự tương tác giữa chất lỏng - thành bể được nghiên cứu bởi Chaiseri et al., 1989 [22] dựa trên các nghiên cứu trước đó của Fujino và Sun LM, 1988 về mô hình toán học. Trong nghiên cứu của Chaiseri thì bể chứa được gắn vào công trình và chịu tải trọng tác động điều hòa, các thực nghiệm được tiến hành lại để xác định tính hiệu quả của phương pháp dùng bể chứa chất lỏng hạn chế chuyển vị của hệ kết cấu cũng như ảnh hưởng của tương tác chất lỏng - thành bể đến các đặc trưng động lực của hệ. Nhờ sự phát triển ngày càng mạnh của công nghệ máy tính, phương pháp số được ứng dụng nhiều hơn để giải các bài toán trong kỹ thuật. Phương pháp PTHH (Phần tử hữu hạn) trở nên vô cùng mạnh mẽ nhờ công nghệ máy tính và ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về phân tích động lực học của bể chứa nước bằng phương pháp PTHH được ra đời, vấn đề tương tác chất lỏng và thành bể được mô phỏng dễ dàng hơn tuy nhiên hiện tượng này vẫn cần được xem xét kỹ hơn nữa để có thể ứng dụng trong áp dụng thực tế.Yalla và Ahsan Kareem, 2001 [23] đã có thêm những nghiên cứu mới về cách tiếp cận hiện tượng này thông qua ma trận khối lượng của hệ liên hợp kết cấu - chất lỏng.
Và một kết luận khá thú vị đã được rút ra là khi sức cản của bể chứa chất lỏng trong kết cấu đạt đến 1 ngưỡng nào đó thì hiện tượng tương tác này không còn tồn tại nữa vì sự hợp nhất tần số của chất lỏng và kết cấu thành tần số chung duy nhất.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỂ CHỨA CHẤT LỎNG Theo Bùi Phạm Đức Tường [1] đã khảo sát bể chứa chất lỏng (Dài 2m, chứa 0,2m nước) đặt trên mái một toà nhà cao tầng (8 tầng cao 24m) chịu tải trọng động đất, đã chỉ ra hầu hết các đặc trưng từ lực tác dụng lên thành bể, đến hệ số tiêu tán năng lượng trong bể do sóng chất lỏng tạo ra. Sự tương tác giữa chất lỏng và kết cấu bê tông mà đặc trưng cho sự tương tác này là độ dày thành có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển động của sóng trong chất lỏng. Dao động riêng của bể có tỷ lệ thuận với độ dày thành, bằng cách tăng hoặc giảm độ dày thành bể thì tần số của bể có thể được kiểm soát.10 Chuyển vị đỉnh (m) 0.30 Thời gian (s) Có TLD Không có TLD Hình 2.1 Biên dạng lớn nhất khi không và có sử dụng bể chứa chất lỏng làm thiết bị giảm chấn (TLD). Theo Bùi Phạm Đức Tường [1] năm 2010.
9 Nghiên cứu này cũng chỉ ra được bể nước trên mái có khả năng làm giảm chấn cho hầu hết tất cả các loại công trình, đặc biệt là đối với các công trình chiều cao lớn vì băng tần số được xem là để bể chứa nước hoạt động tốt nhất từ khoảng 0.4 Hz , khi đó tỷ số chiều cao chất lỏng sẽ nằm trong phạm vi xem bể chứa có mực nước sâu. Khảo sát mô hình phân tích chỉ mới dừng lại ở phạm vi 2D và bể chứa nước đặt trên tòa nhà cao tầng. Theo Lương Văn Chính [2] đã khảo sát thực nghiệm bể chứa nước (sử dụng làm hệ cản chất lỏng) đặt trên tấm thép được đỡ bằng 4 trụ đặt trên bàn rung nhân tạo để tạo lực động. Khảo sát với chiều cao mực nước thay đổi từ 0 cm đến 19 cm trong thời gian t = 40 s.
Cho thấy việc bố trí bể chất lỏng vào khung kết cấu có tác dụng làm giảm chuyển vị và tắt dần nhanh chóng cho công trình. Tuy nhiên, hiệu quả này phụ thuộc vào chiều sâu mực nước trong bể, số lượng bể và cách bố trí bể. Hiệu quả lớn nhất chuyển vị trong kết cấu giảm hơn 60% ở chiều cao mực nước trong bể khoảng 10 cm.2 Chuyển vị đỉnh khung lớn nhất khi sử dụng bể chứa nước làm hệ cản chất lỏng dưới tải trọng động đất. Theo Lương Văn Chính [2] năm 2016 10 Nghiên cứu này mô tả dao động sóng bề mặt của nước trong bể chỉ phù hợp với tính toán gần đúng dựa trên mô hình 2D, chưa xét đến sự tương tác giữa chất lỏng và thành bể.
Trên cơ sở bản chất như đã phân tích, để có kết quả tính toán chính xác hơn, hệ cản chất lỏng cần được mô phỏng trực tiếp dạng 3D trong phần mềm ANSYS. Theo Võ Đình Nhật Khánh [3] khảo sát bể chứa chất lỏng dạng trụ tròn (cao 9.6m bán kính bể 10m, chiều cao mực nước 8m) các thông số Mode dao động, dao động sóng, dao động thành bể, dao động riêng của hệ, có xét đến sự tương tác giữa chất lỏng và thành bể. Có xét đến ảnh hưởng của sự tương tác này đến các thông số của bể như tần số dao động, biên độ dao động, nội lực. Đã thấy được khả năng tự kháng chấn của bể trụ tròn có dung tích lớn có chiều dày thành bể thay đổi, thiết kế chiều dày thành bể giảm dần theo chiều cao là hợp lý để đáp ứng yêu cầu kháng chấn cả về ứng suất gần đáy bể và chuyển vị đỉnh bể.
Nghiên cứu chỉ dừng lại ở bể chứa nước đặt trên mặt đất và khai báo trong mô hình phân tích trong Ansys dưới dạng lập trình công cụ mở rộng là Ansys AIM, chưa mô phỏng 3D.3 Biểu đồ mối tương quan giữa thời gian và biên độ dao động của hệ bể chứa và dao động của chất lỏng theo Võ Đình Nhật Khánh [3] năm 2016. Theo Văng Quốc Khánh [4] đã khảo sát bể chứa chất lỏng đặt trên mái một toà nhà cao tầng (7 tầng cao 24m) chịu tải trọng động đất. Nghiên cứu đã cho thấy với tải điều hoà thì giá trị chuyển vị đỉnh của công trình giảm xuống khi mực nước 11 trong tháp tăng lên.